Thứ Tư, 21 tháng 4, 2010

ĐÊM HỘI KẾT NỐI ƯỚC MƠ





Đêm hội Kết Nối Ước Mơ – đêm khởi động cho chương trình truyền thông Ước Mơ Việt Nam sẽ được tổ chức vào lúc 20 giờ ngày 30/09/2006, tại Nhà hát Bến Thành (TP.HCM) và truyền hình trực tiếp trên sóng VTV1. Chương trình với sự phối hợp tổ chức của Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại TP.HCM (VTV), Công ty Vietbooks, Ngân hàng TMCP Phương Đông.

Đêm hội Kết nối Ước mơ tổng kết chặng đường 5 năm đã qua của chương trình Những Ước mơ xanh từ những ngày đầu khó khăn.

Trong 5 năm qua, đã có rất nhiều số phận con người được giới thiệu đến với công chúng. Nhờ đó, đã có nhiều khó khăn được chia sẻ, nhiều tình cảm được trao gửi, và nhiều nhân vật đã vươn lên thành công trong cuộc sống. Trong đêm hội, những nhân vật tiêu biểu của Những Ước mơ Xanh một lần nữa gặp gỡ với khán giả để tâm sự về những nỗ lực vươn lên trong cuộc sống của họ. Đồng thời, những cá nhân và tổ chức đã đồng hành cùng Những Ước mơ xanh trong suốt năm năm qua cũng được giới thiệu và tôn vinh.

Mong muốn kế thừa thành quả của Những Ước Mơ xanh, đồng thời cũng đưa ước mơ của con người Việt Nam lên một tầm cao mới, khơi gợi những ước mơ có sẵn trong lòng mỗi con người Việt Nam và kết nối cộng đồng con người Việt Nam, đêm hội Kết nối Ước mơ&nbsplà đêm&nbspNhững ước mơ xanh tạm khép lại, và Ước Mơ Việt Nam chính thức ra đời với ý nghĩa: Chương trình truyền thông Ước mơ Việt Nam là một chương trình dành cho tất cả mọi người Việt Nam, với mọi lứa tuổi, mọi thành phần, mọi nghề nghiệp.

Đêm hội sẽ là một sự kiện quan trọng, mở đầu thành công cho chương trình truyền thông Ước mơ Việt Nam.

HỘI THI “NÉT VẼ XANH” & NHỮNG ƯỚC MƠ TRONG SÁNG





Hội thi “Nét vẽ xanh” năm 2005 diễn ra tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. HCM, có khoảng 30 trẻ em khiếm thị tham dự.

Những em bé không thể nhìn cuộc đời qua đôi mắt trong vắt, hồn nhiên như những đứa trẻ bình thường khác. Các em cảm nhận cuộc đời bằng tâm hồn, bằng ước mơ. Đôi mắt các em nhìn xa xăm bất động, nhưng đôi môi luôn mỉm cười lạc quan. Trong tâm hồn các em là cảnh yên bình của dòng sông quê hiền hòa, mát rượi, là ngôi nhà nhỏ thơ mộng với vườn cây, ngập tràn nắng, là lớp học rộn ràng, đông vui với mong ước “Mọi người thương yêu và xích lại gần nhau hơn”. Các em vẽ những ước mơ của mình trên trang giấy, thơ ngây, trong sáng như chính tâm hồn các em.

ƯỚC MƠ TUỔI 20





Ánh sáng lung linh của ngọn nến đang thắp lên ước mơ của tuổi 20.

Bức tường “Tuổi 20, tôi ước…” nơi ghi lại những ước mơ của tất cả mọi người, ước mơ của một thời, ước mơ đang thực hiện và cả ước mơ vừa hình thành.

Bài hát của Nguyễn Quý Lăng viết cho những con người mãi mãi mang ước mơ của tuổi 20.

Những bông hoa rạo rực ước mơ của tuổi 20.

Tuổi 20 ẩn chứa ước mơ, khát vọng và trí tuệ, tư duy.

BÍ QUYẾT THÀNH CÔNG CỦA ÔNG VUA DẦU MỎ JOHN DAVISON ROCKEFELLER





"Mai sau tớ sẽ trở thành ông chủ giàu có với 100 ngàn đô la tiền vốn." Đó là lời tuyên bố của John D. Rockefeller với những người bạn nhỏ của ông.

ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH ƯỚC MƠ

John D. Rockefeller (1839 – 1937) sinh ra và lớn lên trong một gia đình làm nghề buôn bán tại thành phố New York, trong một ngôi nhà hình hộp bình thường. Ông William A. Rockkefeller – bố của John là một chủ trang trại, William buôn bán nhiều thứ để kiếm sống như: tạp hóa, các loại thảo dược, da thú, muối, gỗ và cả việc hành nghề lang băm. Ông đặt rất nhiều hy vọng vào John. Được ông bố chăm chút, rèn đúc và truyền kinh nghiệm mua bán cho nên John sớm hình thành cung cách của một thương nhân. Ngay từ nhỏ, William tạo cho con trai cách ứng xử theo kiểu giao dịch khế ước, hàng tháng John đều được bố thanh toán cho một khoảng tiền công làm những việc lặt vặt. Dần dần, hình thành trong tâm tưởng John ý thức thương nghiệp.

Ngoài bố, John D. Rockefeller còn chịu ảnh hưởng rất lớn tâm tính cần cù chịu khó từ mẹ – bà Eliza. Mỗi ngày bà thức dậy vào lúc 4 giờ sáng để ra đồng làm việc, John cũng ra đồng phụ mẹ, giúp gia đình vắt sữa bò. Bà thường khuyên nhủ John về tư tưởng phần đấu trong khó khăn và cần mẫn tiết kiệm. Vì vậy, khi 60 tuổi, John đã phát biểu : Sống trong gia đình, tôi đã nhận được sự huấn luyện đặc thù.

HÀNH TRÌNH THỰC HIỆN ƯỚC MƠ

Ước mơ trở thành ông chủ giàu có âm ỉ cháy trong tâm trí, len lỏi trong từng tế bào khiến John không còn hứng thú học tập tiếp lên đại học. Ông chỉ có một khát vọng duy nhất là kiếm tiền. Năm 1855, khi John vừa tròn 16 tuổi, ông nghỉ học để đi học thêm khóa học ba tháng về thương mại, kế toán và ngân hàng. Sau đó, ông kiếm được một chân kế toán ở một hiệu buôn tại Houston với mức lương 4 Mỹ kim/ tuần. Tại đây, ông đã giúp cho hiệu buôn đạt được lãi suất kinh doanh cao nhờ vào bản tính làm việc cần mẫn cộng với khả năng kinh doanh thiên phú. Sau ba năm, lương ông lên 600 Mỹ kim, nhưng ông cho rằng đó là mức lương không xứng đáng và khi lời đề nghị tăng lương bị từ chối, ông nhận ra rằng đi làm thuê cho người khác thì hết đời cũng chắng khá lên được, muốn giàu, phải tự mình xây dựng cơ đồ.

Kết thúc ba năm đi làm thuê, John D. Rockefeller rẽ sang bước ngoặc mới. Ông hợp tác với người bạn có tên là Maurice Clark thành lập công ty chuyên kinh doanh các loại ngũ cốc, các loại thịt và các loại thực phẩm, lấy tên “Clark – Rockeleffer” khi chưa tròn 21 tuổi. Tuy nhiên, người bạn làm ăn của ông không tinh thông buôn bán và thường xuyên xảy ra những bất đồng nên John mua lại cổ phần của ông ta, chính thức trở thành ông chủ công ty năm 1865. Nhờ khả năng phán đoán thời cuộc và biết nắm lấy thời cơ nên công ty của John nhanh chóng phất lên thành một người giàu có trong mắt mọi người.

Năm 1861, cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ bùng nổ, giúp cho việc làm ăn của John trở nên thuận lợi. Ông cung cấp muối ăn và các loại vật tư khác cho quân đội. Số tiền ông tích cóp được đủ để cho ông chuyển sang một hướng kinh doanh khác. Từ năm 1863, John đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề dầu mỏ. Ông quan sát từng tốp người đua nhau khai thác dầu thô đưa ra thị trường, ông nhận ra vấn đề then chốt để đưa ngành dầu mỏ phát triển là việc lọc dầu. Ông bỏ ra một số tiền lớn để đầu tư vào ngành lọc dầu. Năm 1870, John D. Rockefeller thành lập công ty dầu mỏ nước Mỹ với số vốn đăng ký là 1 triệu đô la, được xem là công ty lớn nhất nước Mỹ. Sản phẩm từ công nghệ lọc dầu đã giúp cho sự nghiệp kinh doanh của John phất lên nhanh chóng. Ông áp dụng các biện pháp hữu hiệu như giảm giá thành và mua lại các công ty dầu mỏ khác, sáp nhập vào công ty mình. Dần dần ông khống chế thị trường dầu mỏ Mỹ.

Sau khi khống chế được ngành dầu mỏ nước Mỹ, John D. Rockefeller bắt đầu hướng ra toàn cầu. Ông thực hiện chiến lược kinh doanh lũng đoạn có tên “Hoa hồng nở”. Bằng tinh thần lao động kiên trì, ý thức làm giàu không lùi bước, ông đặt ra yêu cầu hết sức nghiêm ngặt cho bản thân và đưa ra quy luật cạnh tranh khốc liệt trên thương trường. Các đối thủ cạnh tranh với ông phải chịu ngạt thở đành chấp nhận thỏa hiệp. Năm 1877, công ty Mobil (Standard) của John đã quét sách những đối thủ cạnh tranh tại khu mỏ dầu, tại thành phố Philadelphia và Pittsburgh.

Đến cuối thế kỷ 19, các mỏ dầu ở Pennsylvania bắt đầu cạn kiệt, Rockefeller bắt đầu thăm dò sang New York, New Jersey và tiểu bang Ohio. Năm 1880, Mobil cung cấp 95% dầu mỏ tại thị trường Mỹ, 75% dầu mỏ thị trường Châu Âu. Sản phẩm của công ty này có ở nhiều nơi trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á… Mạng lưới bán hàng rộng khắp đã mang về cho Rockefeller nguồn lợi nhuận kết xù, giúp ông vươn lên hàng đầu bảng xếp hạng trong số những người giàu nhất nước Mỹ.

BÍ QUYẾT THÀNH CÔNG ƯỚC MƠ

Ước mơ làm giàu của John D. Rockefeller thành công bắt nguồn từ ý chí kiên định và tài năng quản lý. Chiến lược thôn tính các công ty dầu mỏ khác của John khiến cho cả xã hội cảm thấy bất bình. Bản thân ông bị giới báo truyền thông công kích mạnh mẽ, họ gọi ông là: đao phủ, lang sói, kẻ cướp, tội phạm, lưu manh, cướp đoạt miếng cơm manh áo của mẹ góa con côi, là con quỷ hút máu của người nghèo. Nhưng John không thay đổi kế hoạch của mình. Ông quan niệm rằng, cạnh tranh khốc liệt là quy luật của thương trường. Cá lớn nuốt cá bé là hợp với lẽ đời. Ông mở rộng thị trường, mở rộng phạm vi khai thác nhằm cung cấp dầu mỏ chất lượng tốt nhất, với giả cả rẻ nhất là hoàn toàn phù hợp, không có gì sai trái.

Đồng thời, John D. Rockefeller có một tài năng quản lý kiệt xuất. Ba tiêu chí ông đưa ra cho kế hoạch thực hiện ước mơ của mình là: tiêu chuẩn, nhân tài và tư vấn. Ông tâm nguyện, sản phẩm dầu mỏ của ông cung cấp ra thị trường phải đạt tiêu chuẩn tốt nhất. Từ khi mới thành lập cho đến khi nổi tiếng toàn cầu, sản phẩm Standard luôn đảm bảo chất lượng sản phẩm, đây chính là chính sách cơ bản để công ty tồn tại và phát triển. Thứ hai là tài năng, John luôn luôn cần những con người có tài năng và có quyết tâm đẩy sự nghiệp lên đỉnh cao, ông thu hút hàng nghìn nhân tài ưu tú. Đây chính là nguyên nhân quan trọng để công ty Mobil không bao giờ suy sụp. Theo các nhà lịch sử Mỹ đánh giá: Tập đoàn dầu mỏ Mobil đã thu gom những người làm việc đắc lực nhất về cho mình. Họ là một cơ cấu kinh tế có rất nhiều nhân tài. Tất cả họ đều giàu có. Khi họ bàn bạc vấn đề thì rõ ràng giống y như nội các của chính phủ đang mở hội nghị. Mỗi nhân viên của Mobil là một nhân tài được uốn nắn theo “tinh thần Mobil”, chịu sự khống chế nghiêm ngặt của Rockefeller và được bồi dưỡng xứng đáng. Cuối cùng, Rockfeller là một con người xem việc tư vấn là mạng sống cho sự cạnh tranh thị trường. Ông sử dụng nó như một phương thức để mở rộng thị trường, lôi kéo các nhân tài về phía mình và xây dựng Mobil ngày càng lớn mạnh.

Ước mơ trở thành người giàu có đã trở thành hiện thực nhưng đối với John D. Rockefeller, giàu có không phải là tất cả. Hãy suy ngẫm điều ông từng nói: Tôi tin chắc rằng, ai đó quan niệm tiền sẽ mang lại hạnh phúc là hoàn toàn sai lầm. Kẻ giàu có nhất cũng giống như mọi người trong chúng ta, giả sử họ có được niềm vui nhờ thừa tiền, thì niềm vui đó cũng bắt nguồn từ việc ngoài bản thân ra họ còn làm được nhiều việc tốt khiến người khác mãn nguyện. Như lời ông nói, nhờ giàu có, ông đã có điều kiện giúp đỡ mọi người, ông từng trợ giúp 500 triệu đô la cho nghiên cứu y học, giáo dục đại học và giáo hội Sáng lập qũy Rockefeller (1913) với tôn chỉ “đem hạnh phúc đến cho nhân loại”.

Thành công của ước mơ chỉ dành riêng cho một cá nhân nhưng kết quả của nó đem đến hạnh phúc cho nhiều người, đó chính là trường hợp của Vua dầu mỏ John Davison Rockefeller.

SHOSHANA LARA WOO - ƯỚC MƠ SỐNG VÌ NGƯỜI KHÁC





“Cái đẹp của cuộc sống là biết sống vì người khác”- Đó là phương châm sống cô gái Mỹ mang hai dòng màu Trung Quốc và Việt Nam Shoshana.

Cô tốt nghiệp đại học tại một trường danh tiếng bậc nhất nước Mỹ: Trường Yale, ngành Sinh học và trúng tuyển vào Đại học&nbspY khoa Duke (Mỹ). Nhưng cô chọn giải pháp sang Việt Nam với mong muốn “vừa được học thêm tiếng Việt vừa được làm nghiên cứu sinh về tâm lý trẻ đường phố tại Việt Nam. Hơn nữa, Việt Nam là một phần máu thịt thiêng liêng của tôi…”

Shoshana trở thành cô giáo Mỹ của trẻ em đường phố và những trẻ em bất hạnh Việt Nam. Cô dạy vẽ cho các em để biết được suy nghĩ và ước mơ của các em, để các em được vui chơi, giải trí. Ngoài lớp vẽ, cô còn tình nguyện dạy Anh văn miễn phí cho trẻ em đường phố và cả những người có HIV/AIDS. Cô có thể dạy ở bất cứ đâu, trên bãi cỏ hoặc trên vỉa hè. Cô mơ ước trở thành bác sĩ khoa nhi của Liên Hiệp Quốc để góp phần chia sẻ trách nhiệm và xoa dịu nỗi đau của những trẻ em bất hạnh trên thế giới. Ước mơ của cô xuất phát từ tấm lòng nhân ái đối với những cảnh đời không may mắn. Một lý tưởng sống mà nhiều người cần phải học tập.

WILLIAM SHAKESPEARE - GỬI NHỮNG ƯỚC MƠ TRONG TỪNG VỞ KỊCH





William Shakespeare (1564-1616)được mệnh danh là “linh hồn của thời đại”. Ông là nhà thơ, nhà viết kịch đầu tiên ở nước Anh, là tác giả tiêu biểu nhất trong thời kỳ văn hóa phục hưng Châu Âu. Cả cuộc đời ông sáng tác tất cả 37 vở kịch, 154 bài mười bốn dòng, 2 bài thơ dài và các thể loại thi ca khác. Những tác phẩm của ông được công nhận là tác phẩm kinh điển mang tính mô phạm, được dịch ra hơn 70 ngôn ngữ và có ảnh hưởng sâu rộng trên toàn thế giới.

ƯỚC MƠ VỀ MỘT XÃ HỘI ỔN ĐỊNH

Trong giai đoạn sáng tác thứ nhất (1566-1600), Shakespeare có đến chín kịch bản viết về đề tài lịch sử. Đây là giai đoạn nước Anh đã giành được bá quyền trên mặt biển và trở thành cường quốc thế giới. Kinh tế trong nước phát triển, xã hội ổn định, quyền lực tập trung trong tay nhà vua, tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn được truyền bá rộng rãi. Trong tác phẩm của Shakespeare ở thời kỳ này mang một sức sống sôi nổi, một tinh thần bồng bột lạc quan và một lý tưởng xây dựng một trật tự mới của chủ nghĩa nhân văn. Những vở kịch lịch sử của ông là những bức tranh toàn cảnh về đời sống xã hội, tinh thần chống lại cát cứ phong kiến và ủng hộ vương quyền. Đây là sản phẩm độc đáo trong nền kịch nước Anh.

Vở kịch King John thể hiện sự kiện lịch sử của thế kỷ XII – XIII. Các vở khác tập trung thể hiện sự chao đảo và thay đổi của xã hội Anh từ sau thế kỷ XIV và thế kỷ XV. Shakespeare xây dựng những nhân vật theo từng tầng lớp xã hội như nhà vua, giới quý tộc, hiệp sĩ, thị dân, binh sĩ, nông dân và cả những thành phần lưu manh, gái điếm. Tất cả phản ánh sự tan rã của xã hội phong kiến Anh và tham vọng ổn định xã hội của giai cấp tư sản, tuy vẫn còn mờ nhạt.

Từ năm 1590 đến năm 1591, vở kịch lịch sử Henry VI ra đời. Vở kịch kể về một nhà vua nhu nhược Henry VI trị vì đất nước suốt năm mươi năm liền và dẫn đến tình trạng đất nước lâm nguy. Thực tế nước Anh trong thời kỳ này đang bị thù trong giặc ngoài, khói lửa chiến tranh liên miên. Tiếp theo tiến trình lịch sử là vở Richard III ra đời năm 1592, câu chuyện kể về việc Richard sát hại Henry VI và sau cái chết của Edward IV, Richard đã âm mưu sát hại sáu người kế thừa ngôi vua hợp pháp và xúi bạo loạn để đưa ông ta lên làm vua. Nhân vật Richard III mang tính chất điển hình của nhân vật lịch sử, một bạo chúa đầy tham vọng, xảo trá, độc ác, nham hiểm. Đến vở Henry IV, nhân vật Sir John Falstaff được xây dựng hết sức sáng tạo, đó là một gã hiệp sĩ chỉ biết ăn chơi và háo sắc. Khi ra chiến trường, gã giả vờ chế để bảo tồn tính mạng, thể hiện một lớp người trong xã hội chuyên lợi dụng tình hình xã hội để vơ vét hưởng lạc. Ngoài ra, Shakespeare còn mang vào trong kịch của ông cả một giai đoạn lịch sử suốt hơn 200 năm của nước Anh như vở Henry V (1598) và Henry VIII (1612). Ông lên tiếng khiển trách những cuộc chiến tranh đẫm máu của giới quý&nbsptộc phong kiến, bày tỏ nguyện vọng thống nhất quốc gia, ổn định xã hội. Qua những vở kịch của mình, ông cũng vạch trần những mâu thuẫn của thời đại, phản ánh lý tưởng của giai cấp tư sản mới vươn lên.

ƯỚC MƠ VỀ TÌNH YÊU ĐẸP

Kịch vui của Shakespeare nói lên nguyên tắc của chủ nghĩa nhân văn và giành được sự thành công trong đời sống của dân gian và của cá nhân. Ca ngợi cái đẹp trong tình yêu và tình bạn. Đề cao quyền tự do yêu đương. Nhân vật chính thường là những chàng trai dũng cảm cao thượng và những cô gái dịu dàng nhưng có ý chí cứng rắn. Trí tuệ và lòng trung thành luôn giúp họ vượt qua nghịch cảnh và chiến thắng bọn tà ác.

Những vở kịch vui đầu tay của Shakespeare như Hài kịch của sai lầm (1592), Thuần lương và hung hãn (1593) chưa hoàn thiện về mặt nghệ thuật cũng như chưa sâu sắc về mặt nội dung. Từ năm 1595, những vở kịch vui đã đạt đến mức hoàn hảo. Vở Mộng đêm hè (1695) là vở kịch vui mang tính ảo tưởng. Vở Người lái buôn thành Venice có nội dung phong phú, tư tưởng sâu xa, nhân vật nổi bật và ngôn ngữ tuyệt hay. Đó là câu chuyện kể về nàng Portia thông minh, xinh đẹp và dũng cảm đã dám cải trang thành một nam cố vấn pháp luật để xử tên Shylock, một kẻ xem tiền trên hết và cứu lấy Antonio, một người bạn chân thành của người yêu cô. Hình tượng về một cô gái lý tưởng của chủ nghĩa nhân văn, lòng nhân ái và bản tính lương thiện chiến thắng lòng tham lam và bản tính gian tà.

Và hàng loạt vở kịch vui khác như Chuyện không nói có (1598), Đều là chuyện vui lớn (1599), Đêm thứ mười hai (1600) là những sáng tác miêu tả tình yêu của những chàng trai cô gái phải trải qua nhiều trở lực để giành lấy hạnh phúc trong tình yêu. Dù gặp bao nhiêu khó khăn, trắc trở nhưng với tinh thần lạc quan, biết tin vào cuộc sống tốt đẹp phía trước để khẳng định cái đẹp của tình yêu là sự mãnh liệt và thuần khiết chính là ước mơ của tác giả.

Với góc nhìn của một con người từng trải, tình yêu không phải lúc nào cũng màu hồng, chế độ xã hội và những định kiến đã tạo ra những thảm kịch tình yêu. Vở Romeo và Juliet (1594) là một điển hình. Đôi tình nhân theo đuổi hạnh phúc tình yêu tới cùng. Họ đã lấy cái chết để phản kháng lễ giáo phong kiến và&nbsphoá giải mối hận thù truyền kiếp của hai gia tộc lớn là Montague và Capulet. Cái chết của chàng trai và cô gái trẻ như ánh hào quang xua tan đi bóng tối của hận thù. Tình yêu lý tưởng của chủ nghĩa nhân văn chiến thắng lễ giáo cũ kỹ.

ƯỚC MƠ HÓA GIẢI NHỮNG MỐI XUNG ĐỘT XÃ HỘI

Không mang không khí lãng mạn vui tươi và lý tưởng lạc quan tốt đẹp của những vở kịch vui, bi kịch của Shakespeare mang suy tư nặng nề về các mối xung đột. Lý tưởng nhân văn và hiện thực xấu xa của xã hội là hai mặt đối lập được ông thể hiện trong từng vở kịch. Vào cuối thời kỳ thống trị của nữ hoàng Elizabeth, các thế lực phong kiến đua nhau tranh quyền đoạt lợi, giai cấp tư sản mới vươn lên nhưng nhu nhược, đời sống nhân dân cơ cực, chịu sự áp bức bóc lột nặng nề của các thế lực phong kiến, Shakespeare đã vẽ bức tranh xã hội bằng ngôn từ uất ức đau khổ nhưng tràn đầy niềm hy vọng và niềm tin ngoan cường, bất khuất.

Vở bi kịch Hamlet (1601) có nội dung triết học phong phú và có ý nghĩa xã hội sâu sắc, đặt lên vai chàng hoàng tử Đan Mạch Hamlet trách nhiệm xã hội to tát là diệt trừ tội ác, khôi phục chính nghĩa nhưng chàng luôn rụt rè, nhu nhược trong hành động. Và phải giải quyết bằng một cuộc quyết đấu. Đó chính là đặc trưng của người theo chủ nghĩa nhân văn thuộc giai cấp tư sản đương thời. Sự kết hợp hài hoà giữa thực tế xã hội, chiều sâu triết học và nghệ thuật hấp dẫn đã làm cho tác phẩm trở thành một trong những kiệt tác trong kho tàng văn học thế giới.

Đến vở Othello (1604), Shakespeare lại khai thác khía cạnh khác của mối xung đột xã hội, một con người ngây thơ ngay thẳng như Othello đã giết vợ chỉ vì quá tức giận. Khi hiểu rõ chân tướng sự việc, Othello bình tĩnh tự nhận sự phán quyết và trừng trị nghiêm khắc cho chính mình bằng cách tự sát.

Trong vở Vua Lear (1605), từ một ông già u mê trở thành một ông lão nhân từ biết thương người. Đây là một tác phẩm thể hiện sự xung đột giữa lòng nhân ái với lòng vị kỷ tự ti cực đoan, phơi bày sự đồi bại về đạo đức trong mối quan hệ cha con, vợ chồng. Cuối cùng vua Lear chết sau khi phát điên.

Cái chết của viên đại tướng Macbeth trong vở Macbeth (1605) dùng để rửa sạch tội ác của tên tướng nhiều dục vọng và dã tâm này. Tội ác của Macbeth không thể hối cải được, hai bàn tay dính máu của ông ta không có loại nước nào có thể rửa sạch được. Sự trừng phạt lớn nhất dành cho ông ta là sự dày vò suốt ngày đêm của chút lương tri còn sót lại trong nội tâm ông ta.

Và hàng loạt những tác phẩm khác như Caesar đại đế (1699), Antony và Cleopatra (1606)… đều có những cái chết mang tính hoá giải xung đột, mỗi cái chết mang màu sắc khác nhau nhưng đằng sau hành động chết là một sự giải thoát. Xung đột trong tình yêu, xung đột trong gia đình, xung đột giữa suy nghĩ và hành động trong bản thân, xung đột trong bối cảnh chính trị… đều được hóa giải hợp lý dưới ngòi bút và tư tưởng của Shakespeare.

“Con người là một kiệt tác thật tuyệt vời” – Shakespeare đã nói như vậy và ông đã thể hiện kiệt tác ấy hết sức sâu sắc và đa dạng. Ông đã đặt tất cả tâm nguyện và khát vọng của mình trong từng tác phẩm. Cuộc đời ban tặng cho ông niềm hạnh phúc gia đình để tài năng của ông được thăng hoa, nhưng dưới đôi mắt của một người nhiệt tình với cuộc đời, ông không thể thờ ơ với những gì đang xảy ra quanh mình và cách duy nhất được ông sử dụng là tái hiện lại trong từng tác phẩm, thông qua tác phẩm, ông bày tỏ quan điểm, tư tưởng, ước mơ của bản thân. Đó chính là yếu tố tích cực tạo nên sự hoàn hảo của từng tác phẩm của Shakespeare.

GẶP NGƯỜI BỊ KẾT ÁN 115 NĂM TÙ VÌ TIẾT LỘ THÔNG TIN MẬT VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM




Daniel Ellsberg, sĩ quan Lầu Năm Góc, từng tham chiến ở Việt Nam, tiết lộ 7.000 trang tài liệu tối mật cho báo chí, tạo nên làn sóng phản đối chiến tranh VN mạnh mẽ chưa từng có tại Mỹ.


Daniel Ellsberg

Năm 1971, Daniel Ellsberg, sĩ quan Lầu Năm Góc, từng tham chiến ở Việt Nam, tiết lộ 7.000 trang tài liệu tối mật cho báo chí, tạo nên làn sóng phản đối chiến tranh VN mạnh mẽ chưa từng có tại Mỹ.

Sau gần 40 năm, ở tuổi 75, nhân vật huyền thoại này trở lại VN trong chuyến du lịch cùng các sinh viên Mỹ. Đã có sự giới thiệu của anh Michael Ellsberg, con trai ông, nhưng Daniel vẫn luôn trả lời một cách dè dặt mỗi khi tôi liên lạc với ông từ VN. Có lẽ đây chính là đặc tính của một sĩ quan từng làm việc trong cơ quan hoạch định chính sách chiến tranh của Lầu Năm Góc và trải qua nhiều sóng gió cuộc đời. Vậy nhưng khi gặp nhau tại Hà Nội, Daniel lại cởi mở hơn tôi tưởng. Không còn sự e ngại, không cần những câu nói xã giao, Daniel sẵn sàng bộc bạch với những tình cảm chân thành.

Quyết định gây chấn động

Nhận bằng Tiến sĩ kinh tế ĐH Harvard năm 1962, nhưng cuộc đời lại đưa Daniel đến với Bộ Quốc phòng năm 1964 và ngày sau đó phải sang chiến trường VN.

Sau hơn 3 năm ở VN, làm việc cho cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Quốc phòng và Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, năm 1967, Daniel lúc đó 36 tuổi, trở về Mỹ. Daniel được phân vào nhóm nghiên cứu tối mật về hoạch định chính sách đối với VN của Bộ trưởng Quốc phòng McNamara.

Hỏi lý do nào khiến ông đi đến quyết định gây chấn động nước Mỹ năm 1971? Daniel cho biết thực ra ông đã bắt đầu copy các tài liệu mật từ năm 1969. Ở vị trí của mình, Daniel biết rằng Tổng thống Nixon muốn “leo thang” trong cuộc chiến ở VN. Tuy nhiên, chính quyền Nixon lại dùng những lời nói dối để bao che cho hành động leo thang, kéo dài chiến tranh. Daniel muốn các nhà lịch sử, báo chí và công luận hiểu rõ sự dối trá này.

Mặt khác Daniel cũng nhận thức được những gì mình và gia đình có thể phải hứng chịu sau đó. Khi đưa ra quyết định này, Daniel cho biết, ông đã sẵn sàng vào tù. Đây là một quyết định khó khăn với nhiều sự giằng xé nội tâm, nhưng cuối cùng phần yêu mến hòa bình, mong muốn chiến tranh kết thúc sớm, tôn trọng công lý, sự thật trong con người Daniel đã chiến thắng.

Sau khi trao tài liệu mật cho tờ The New York Times đầu tiên, Daniel và vợ, bà Patricia, bị chính quyền tìm mọi cách ngăn cản để các tờ báo khác không có được tài liệu. Trong vòng 2 tuần, với sự giúp đỡ của bạn bè và những người hoạt động trong phong trào phản chiến, tài liệu đã được phân phát cho 19 tờ báo lớn ở Mỹ. Daniel nhớ lại thời điểm đó FBI từng miêu tả vợ chồng ông như là mục tiêu săn đuổi lớn nhất. Một khoảng thời gian rất căng thẳng, nhưng Daniel được sự ủng hộ của vợ con, thậm chí họ còn giúp ông photo và phân phát tài liệu. Lúc đó con của Daniel còn nhỏ và thực sự không hiểu gì, nhưng Daniel muốn con mình được biết những điều mà người cha đã làm. Ngay sau đó Daniel bị bắt, bị tòa án cáo buộc tới 12 tội nghiêm trọng với bản án 115 năm tù. Vợ của ông bà Patricia cũng bị kết án.

Tuy nhiên, năm 1973, bản án 115 tù của Daniel đã bị bãi bỏ cùng với việc Tổng thống Nixon và một số quan chức Nhà Trắng bị điều tra. Cậu con trai thứ của Daniel là Michael sinh ra sau khi chiến tranh VN kết thúc. Dù vậy Michael tâm sự với tôi rằng anh hiểu rõ những gì cha mình đã làm và luôn tìm cách bù đắp cho những gì mà ông từng phải gánh chịu. Các con của Daniel cũng như nhiều người Mỹ yêu chuộng hòa bình và công lý luôn xem ông như một huyền thoại.

Với câu hỏi liệu đã bao giờ ông cảm thấy hối hận về việc tiết lộ tài liệu mật, Daniel tâm sự rằng ông chỉ hối hận là đã không làm điều này sớm hơn. Năm 1964 - 1965 khi làm việc cho trợ lý đặc biệt của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tại VN, Daniel được tiếp cận với nhiều tài liệu mật và nếu tiết lộ ngay đã có thể làm thay đổi một điều gì đó trong cuộc chiến tranh này. Tòa án khi xét xử Daniel đã cáo buộc hành động của ông là phản quốc, nhưng theo Daniel việc phản đối chiến tranh, mang lại hòa bình, nói rõ sự thật với người dân mới thể hiện rõ lòng yêu nước. Người dân Mỹ có sự phán xét công bằng. Khi Daniel bị kết án, hơn 25.000 người đã quyên góp ủng hộ ông. Tuy nhiên, cũng có người Mỹ cho rằng Daniel đã hành động sai, đặc biệt vì trước đó ông đã tuyên thệ giữ bí mật các tài liệu. Daniel giải thích nếu hối hận ông đã không tiếp tục có những hành động phản đối chiến tranh đến ngày nay.

Trở lại chiến trường xưa

Trở lại VN, Daniel mới hiểu rằng dù chiến tranh qua đi đã lâu, người dân vẫn tiếp tục phải hứng chịu những hậu quả của nó như bom mìn còn sót lại. Daniel còn được trực tiếp chứng kiến những đổi thay sau hơn 30 năm chấm dứt chiến tranh, những khuôn mặt rạng ngời của giới trẻ trên các đường phố ngập tràn xe môtô, những người phụ nữ chân lấm tay bùn trên đồng ruộng, các em thơ vẫn trên lưng trâu và đặc biệt là sự thân thiện mà bạn bè VN dành cho ông cũng như các thành viên trong đoàn...

Tất cả khiến Daniel thực sự xúc động và càng hiểu rõ rằng mình đã hành động đúng trong quá khứ. Trên mảnh đất này, Daniel đã từng cầm súng, nhưng sau đó lại bất chấp mọi hậu quả để tiết lộ tài liệu mật với hi vọng chiến tranh sớm kết thúc.

Từ sau chiến tranh VN đến nay, Daniel đã viết rất nhiều sách, báo, thường xuyên tham dự các buổi nói chuyện liên quan đến chiến tranh VN ở các trường đại học trên khắp nước Mỹ. Những tiết lộ mới của ông gần đây như trong cuốn “Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers “ (Các bí mật: Hồi ký về VN và các tài liệu Lầu Năm Góc) trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất ở Mỹ. Tất cả những hoạt động đó, theo Daniel, là vì hòa bình, công lý và sự thật với hi vọng những điều không tốt đẹp như trong chiến tranh VN sẽ không bao giờ xảy ra nữa.

Trang web mà cậu con trai Michael lập riêng cho ông luôn nhận được sự quan tâm của nhiều người Mỹ, đặc biệt là sinh viên. Mặc dù đã 75 tuổi, nhưng lịch làm việc của Daniel dày đặc với những buổi nói chuyện trên khắp nước Mỹ. Hiếm khi Daniel có mặt ở nhà mình tại thành phố Kensington, bang California.

ƯỚC MƠ THỜI TẤM BÉ CỦA BÀ BLAIR





Cherie Blair, phu nhân của Thủ tướng Anh T.Blair, vừa cho biết khi còn thơ ấu bà đã mong ước được trở thành... thủ tướng xứ sương mù.

Bà Cherie đã bộc bạch tham vọng đáng ngạc nhiên kể trên khi bà cùng nhiều ngôi sao khác được đề nghị tiết lộ suy nghĩ hồi tấm bé về việc họ muốn làm gì khi lớn lên. Hoạt động này nằm trong khuôn khổ một dự án nhân đạo dành cho trẻ em. Đứng tại tòa nhà Hạ viện, bà Cherie kể: "Khi tôi 14 tuổi, tôi nhớ là đã nói với bạn bè mình rằng tôi muốn trở thành nữ thủ tướng đầu tiên của Anh. Bà Thatcher đã vượt qua tôi và giành vị trí đó nhưng điều đáng ngạc nhiên là cuối cùng tôi cũng ở phố Downing".

Theo Báo Daily Mail, có lẽ đệ nhất phu nhân nước Anh muốn theo gương người bạn Mỹ thượng nghị sĩ Hillary Clinton, người đang tìm cách theo bước chồng bà chạy đua vào Nhà Trắng.

NGƯỜI PHỤ NỮ ĐẦU TIÊN BAY VÀO VŨ TRỤ - ƯỚC MƠ LÊN SAO HOẢ





Ngày 06/03/2007, bà Valentina Tereshkova, người phụ nữ đầu tiên trên thế giới bay vào vũ trụ, tròn 70 tuổi. Nhân dịp này, bà tiết lộ một ước mơ chưa được toại nguyện của mình: bay lên sao Hỏa.

Trả lời Itar Tass&nbspmột ngày&nbsptrước&nbspkỷ niệm tuổi "thất thập cổ lai hy", người phụ nữ từng được tặng biệt danh "Hải âu"&nbspnói về giấc mơ lên Hành tinh đỏ: "Tôi sẵn sàng bay lên đó không trở lại".

Tuy nhiên, tên tuổi của bà không phải gắn với Hành tinh đỏ, mà là Trái đất. Từ tháng 6-1963, cái tên Tereshkova đã được khắp thế giới biết tới. Số phận một cô gái nông thôn dung dị,&nbsptốt nghiệp phổ thông đi làm trong nhà máy dệt nhưng rồi trở thành phi công vũ trụ đã trở thành huyền thoại về những "nàng lọ lem vũ trụ".

Chiến tranh lạnh và cuộc chạy đua vào vũ trụ giữa các cường quốc đã khiến xuất hiện nhiều tin đồn về chuyến bay và cuộc đời của bà. Thêm vào đó, sự im lặng của nữ phi công vũ trụ đầu tiên, việc bà từ chối trả lời báo chí&nbspcàng khiến có thêm nhiều đồn đoán. Nhưng hôm qua, 5-3,&nbsptrong cuộc tiếp xúc với báo giới trước thềm tuổi 70, bà Valentina Tereshkova đã chính thức trả lời những nghi vấn nhiều năm qua.

Ngày 14-6-1963, con tàu "Phương Đông 5" và phi hành gia&nbspValeri Bykov được tên lửa đưa vào&nbspquỹ đạo. Một ngày sau đó là&nbspkế hoạch đưa Valentina Tereshokva lên quỹ đạo cùng "Phương Đông 6". Việc xuất phát diễn ra êm đẹp. Thế nhưng điều gì đã xảy ra cho con tàu trên quỹ đạo?

Bà Valetina tiết lộ: "Đã có một sai sót trong chương trình tự động của con tàu:&nbspthay vì hạ thấp, nó lại nâng quỹ đạo lên. Kết quả là ngày tôi càng xa Trái đất thay vì trở lại gần hơn".

Bà Valentina liền báo sự cố về trung tâm. Và chỉ một ngày sau đó, tức ngày thứ hai của chuyến bay, các chi tiết được bổ sung và quỹ đạo được sửa lại. Sau đó, chỉ huy chương trình yêu cầu nữ phi hành gia không&nbsptiết lộ trục trặc này, đó là lý do bà giữ kín&nbsphàng chục năm qua.

Cũng đã có những tin đồn rằng sức khỏe nữ phi hành gia đầu tiên bị tác động bởi tình trạng không trọng lực, rằng bà bị nôn mửa, chóng mặt, và các chương trình nghiên cứu khoa học liên quan vì thế đã "đổ sông đổ biển". Thực tế, bà Valentina kể, chuyến bay ba ngày đã diễn tiến bình thường. Bà bị buộc phải mặc bộ quần áo phi hành gia suốt, nên đến ngày thứ hai thì ống quyển&nbspphải của bà bị sưng và đến ngày thứ ba thì đau không chịu nổi. Chiếc mũ bảo hộ đè nặng lên vai. Bộ thu biến đội trên đầu thì gây ngứa ngáy, bứt rứt.

Valentina bắt đầu thèm thức ăn bình thường trên Trái đất: bánh mì, khoai tây... Thế nhưng trên vũ trụ thì chỉ có bánh mì khô cứng. Bà thú nhận có một lần nôn, nhưng không phải vì tình trạng không trọng lực, mà vì... thức ăn vũ trụ!

Thử thách cuối cùng là việc nhảy dù tiếp đất (tất cả các phi hành gia các tàu "Phương Đông" khi đó đều phải nhảy dù và tiếp đất riêng so với tàu). Bà thú nhận đã&nbspthầm sợ. Phía dưới là cả một chiếc hồ lớn (phi hành gia không thể điều khiển chiếc dù nặng được mở từ trên cao 4 km cách mặt đất). Suy nghĩ khi đó của tôi là: "Trời ạ, đã đưa một phụ nữ đơn độc lên vũ trụ, giờ đây lại thưởng cho cô ta cả một hồ nước". Các phi hành gia đều trải qua huấn luyện đáp xuống mặt nước, nhưng sau chuyến bay dài như vậy, liệu bà có đủ sức tiếp... nước không? May mắn thay, chiếc dù bay trượt qua hồ nước và nữ phi hành gia hạ cánh xuống mặt đất.

... 44 năm sau chuyến bay, Valentina đã trải qua hai cuộc hôn nhân. Bà cũng tham gia nhiều công tác xã hội. Được hỏi về ước nguyện hiện nay, người phụ nữ đầu tiên bay vào vũ trụ nói: "Nếu có tiền, tôi sẽ lại bay nữa. Nhiều năm qua tôi rất quan tâm tới sao Hỏa. Mơ ước của tôi là bay đến đó và&nbsptôi sẵn sàng&nbspbay đến đó, thậm chí nếu không được trở lại!".

JENNIFER HUDSON: ƯỚC MƠ ĐÃ THÀNH SỰ THỰC





Từng trượt tại vòng thi cuối cùng cuộc thi American Idol năm 2004, thế nhưng giờ đây, chỉ với một vai diễn phụ trong bộ phim Dreamgirls, cô gái da màu 25 tuổi Jennifer Hudson đã có trong tay tất cả...



Vai diễn cô nàng Effie trong Dreamgirls đã mang lại cho Jennifer biết bao giải thưởng danh giá mà bất kỳ diễn viên tên tuổi nào cũng mơ ước: giải Quả cầu vàng, giải SAG... đặc biệt là tượng vàng Oscar cho Nữ diễn viên phụ xuất nhất tại lễ trao giải Oscar lần thứ 79 vừa diễn ra hôm 25/2. Một điều đặc biệt là Dreamgirls là bộ phim đầu tiên cô gái da màu này tham gia diễn xuất.

Jennifer Kate Hudson sinh ngày 12/12/1981 tại Chicago. Với mong muốn tìm kiếm sự nổi tiếng, Jennifer tham gia cuộc thi American Idol lần thứ 3 vào năm 2004. Với giọng hát khá tốt, cô đã lọt vào tới vòng cuối cùng của cuộc thi nhưng rút cục cũng chẳng đem về được giải thưởng nào. Ban giam khảo cuộc thi American Idol đã từng phải ngao ngán nhận xét: “Mọi thứ của cô đều quá khổ so với người khác” về thân hình mập mạp, mái tóc rối bù và làn da đen cháy đặc trưng của Jennifer.

Thế nhưng cuối cùng, chính vẻ ngoài quá khổ và đặc biệt này đã giúp cô vượt qua hàng trăm đối thủ để nhận được vai diễn Effie White trong bộ phim sẽ mang lại tên tuổi cho cô - Dreamgirls.

Để thực hiện vai diễn này, Jennifer đã phải tăng 10kg để thích hợp với nhân vật Effie White. Dreamgirls bắt đầu bấm máy ngày 9/1/2006, và chính thức công chiếu ngày 25/12/2006 vừa qua.


Nhân vật Effie White mà Jennifer thủ vai đã làm lu mờ cả ngôi sao lớn - Beyoncé Knowles. Có tin đồn rằng, ngòai đời Jennifer và Beyoncé ghét nhau đến nỗi không thèm nhìn mặt nhau, thế nhưng cả hai đều ra sức phủ nhận tin đồn này và luôn chứng tỏ rằng họ là bạn tốt.

Trong bộ phim ca nhạc này, Jennifer đã có cơ hội được phô bày giọng hát dày, khỏe và mượt mà của mình qua ca khúc chính của phim “And I Am Telling You I’m Not Going”.

Chiến thắng đầu tiên vai diễn Effie White mang lại cho nữ diễn viên da màu 25 tuổi này là giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất tại lễ trao giải Quả Cầu Vàng. Sau đấy, một loạt các giải thưởng danh giá đã đến với cô diễn viên mới chập chững bước vào nghề này. Jennifer Hudson đã được bước lên bục cao nhất của sự nghiệp một diễn viên, cô đã được nhận giải Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất của Viện Hàn Lâm Hoa Kỳ tại lễ trao giải Oscar lần thứ 79.

Roy Mike Boehm: 15 năm một tình yêu




Một cựu chiến binh của Mỹ sau bao năm đấu tranh với chính mình, phá bỏ mặc cảm, trở lại Việt Nam. Mike hưởng ứng cuộc đấu tranh vì các nạn nhân chất độc màu da cam, xem mình như người trong gia đình. Và gắn phần đời còn lại của ông với Việt Nam và tiếp tục đấu tranh đòi công lý cho họ.

Vị khách của niềm vui

Cơn mưa đầu mùa làm con đường đất đỏ từ trung tâm xã vùng cao Ba Vinh (Ba Tơ) lên thôn Nước Lá trở nên lầy lội, trơn trượt. Dù vậy, Roy Mike Boehm vẫn lội bộ để kịp bàn giao ngôi nhà cho gia đình nạn nhân chất độc da cam Phạm Văn Thí từ số tiền mà ông cùng Tổ chức Madison Quakers, Inc vận động những cựu chiến binh Mỹ quyên góp.



TT - Chuyến đi ra Sơn Mỹ, Quảng Ngãi để kéo tiếng đàn vĩ cầm tạ lỗi hương hồn những người dân bị quân đội Mỹ thảm sát năm 1968 trong lần thứ hai trở lại VN (năm 1992) đã trở thành một bước ngoặt để Roy Mike Boehm, cựu chiến binh Mỹ, gắn bó với Quảng Ngãi.

Ôm chầm Mike khi ông vừa chạm ngõ, bà Yêu (mẹ Thí) dắt ông vào ngôi nhà mới, đôi mắt bà ngấn lệ không nói nên lời. Cũng phải thôi, gần 25 năm đứa con trai nhiễm chất độc da cam đã phải vật vã chống chọi cơn đau dưới nền đất, giờ được nằm trong ngôi nhà cấp bốn, nền láng ximăng mà bà thấy ấm lòng. Người đàn bà dân tộc H’Re sau một hồi xúc động, cầm tay Mike nói: “Dù không gì bù đắp được nhưng việc làm của ông đã làm cả nhà mình vui lên hơn”.

Cũng gánh chịu nỗi đau da cam trong suốt 25 năm qua, Huỳnh Văn Tèo (ở thôn Nhơn Phước, xã Phổ Nhơn, Đức Phổ) đón Mike trong ngày được về nhà mới với giọng cười nghe đến nhói lòng. Đôi chân run bần bật từng hồi nhưng Tèo vẫn cố đứng vững khi Mike đến nhà.

Miệt mài hàn gắn vết thương

Trở về Mỹ sau chiến tranh vào năm 1969, Mike cảm thấy mình bị chính quyền và cả gia đình lừa dối. Nỗi ám ảnh về cuộc chiến tranh mà Mike cho là phi nghĩa cứ khắc khoải trong tâm trí người cựu chiến binh Mỹ này. Để rồi sau những tháng ngày đấu tranh với chính mình, Mike quyết trở lại VN.

Năm 1992, một bước ngoặt trong cuộc đời Mike khi ông trở lại VN lần thứ hai. “Là cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại VN nên tâm trạng tôi đầy lo lắng trước chuyến đi này, nhưng gánh nặng tâm lý phần nào được trút bỏ ngay tại sân bay Tân Sơn Nhất, khi tôi tận mắt thấy những nhân viên an ninh VN tận tình dìu người bạn bị cụt chân (cũng là cựu chiến binh Mỹ - PV) đưa ra tiền sảnh của sân bay an toàn” - Mike xúc động kể lại.

Phá bỏ mặc cảm, sau khi thăm lại Củ Chi (TP.HCM), nơi Mike đóng quân, ông cùng những người cựu chiến binh trong đoàn góp tiền ủng hộ xây dựng một trạm xá ở Đồng Nai, rồi tách đoàn tìm về Sơn Mỹ như một sự run rủi để kéo đàn vĩ cầm tạ lỗi với những người dân thường bị quân đội Mỹ thảm sát.

Chứng kiến cuộc sống gian khó của vùng đất này, Mike quyết định gắn bó với Quảng Ngãi. Kể từ đó, trong suốt 15 năm qua, Mike cứ như con thoi bay qua bay lại nửa vòng Trái đất để làm những phần việc mà theo ông, là để góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh.

Trong ba tháng cuối năm ngoái, Mike một mình trên chiếc xe cũ kỹ đi dọc 13 bang của Mỹ với quãng đường trên 35.000km để vận động người Mỹ ủng hộ cuộc đấu tranh đòi công lý của Hội Nạn nhân chất độc da cam VN.

Hưởng ứng vụ kiện của nạn nhân chất độc da cam tại Mỹ tháng 6-2007 vừa qua, Mike đứng trong hàng ngũ những người dân Mỹ xuống đường tuần hành yêu cầu các công ty hóa chất Mỹ phải bồi thường cho các nạn nhân. Ông nhiệt tình vì VN đến nỗi bất đồng quan điểm với những người trong gia đình.

Dẫu vậy, với “người Mỹ trầm lặng” 60 tuổi này, “cuộc đời còn lại sẽ là những tháng ngày gắn bó với VN và tiếp tục đấu tranh vì nạn nhân chất độc da cam” - Mike quả quyết.

Người biến ước mơ thành vàng




Nhiều năm sau cái chết vì ung thư của Walt Disney, nhiều người vẫn tin rằng sẽ có một ngày ông quay trở lại. Lúc sinh thời, ông được ví như một người có khả năng biến ước mơ thành vàng.

Lúc sinh thời, Disney thường nói với mọi người rằng nếu có thể mơ ước thì cũng có thể làm được điều mơ ước ấy miễn là có niềm tin. "Hãy luôn nhớ rằng tất cả những gì tôi tạo ra đều xuất phát từ ước mơ và chú chuột Mickey. Thành công của tôi cũng bắt đầu từ mơ ước và tôi tập trung đầu tư vào tâm nguyện đó để không bị chệch hướng khỏi con đường đã chọn", ông nói.

Disney luôn tin rằng không có đỉnh cao nào mà con người không chinh phục được. "Tôi là người biết cách biến ước mơ thành hiện thực. Theo tôi, bí quyết thành công gói gọn trong 4 yếu tố, óc quan sát, tính kiên định, sự bền bỉ và lòng quả cảm. Trong đó yếu tố quan trọng nhất là sự kiên định. Nếu bạn đã tin vào một điều gì đó, thì hãy tin suốt đời, không do dự không nghi ngờ", ông nhấn mạnh.

Theo ông, dũng cảm là một phẩm chất chính của những nhà lãnh đạo mà không phụ thuộc vào việc nó được thể hiện như thế nào. Thông thường, dũng cảm bao giờ cũng đi kèm với sự mạo hiểm, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh. Để chiếu sáng những con đường mới hoặc tạo ra những khả năng mới, con người cần phải biết cách tân và dám mạo hiểm.

Cách tốt nhất để tạo ra một điều kỳ diệu là không nói nữa và bắt tay vào hành động. "Vấn đề lớn nhất của tôi là gì? - Đó là tiền. Tôi cần rất nhiều tiền để biến những ước mơ của mình thành hiện thực. Lúc đầu tôi cũng gặp rắc rối lớn về tiền bạc. Khi xây dựng Disneyland, chúng tôi cần phải có khoảng 17 triệu USD. Chúng tôi đã đầu tư tất cả những gì mình có. Nhưng, cuối cùng chúng tôi thu về một số tiền lớn hơn thế nhiều lần. Giống như một chủ trang trại, đầu tiên phải gieo hạt xuống đất nếu bạn muốn cây mọc lên", ông nói.

Walt Disney không bao giờ băn khoăn vì giá đắt quá hay rẻ quá. Ông chỉ lo lắng đến chất lượng, bởi nếu thực sự là một sản phẩm tốt, mọi người chắc chắn sẽ mua.

"Bạn sẽ đạt được tất cả nếu bạn làm việc không phải vì tiền bạc.
Nếu làm tốt công việc của mình, bạn không bao giờ phải lo lắng đến tiền bạc. Khi đó của cải vật chất sẽ tự đến với bạn. Đơn giản là hãy làm tốt nhất việc mà bạn giỏi nhất và hãy coi điều này là con át chủ bài của bạn", ông khuyên.

Tiền bạc đối với Disney là khái niệm rất mơ hồ. Ông chỉ nghĩ đến nó khi không có tiền để biến niềm hào hứng của mình thành hiện thực. "Tất cả những hiểu biết của tôi về tiền bạc thì đó là phương tiện để tôi thực hiện những ý tưởng của mình. Tôi không muốn gửi những đồng tiền kiếm được vào nhà băng vì muốn chúng phải "làm việc". Tiền bạc không kích thích được tôi, chỉ có các ý tưởng mới làm tôi bị kích thích", ông cho hay.

Walt Disney sinh năm 1901 ở Chicago. Năm 16 tuổi ông tình nguyện nhập ngũ. Trong quân đội, ông kiếm được không ít tiền bằng cách vẽ mề đay trên quân phục cho những người lính. Năm 1920, Walt Disney làm việc ở hãng phim quảng cáo Kanzas City. Tại đây, lần đầu tiên, ông làm công việc của một họa sĩ vẽ động vật.

Dự án kinh doanh đỉnh cao của Walt Disney là công trình DisneyLand được xây dựng năm 1955. Doanh thu của tập đoàn Doanh thu của tập đoàn Walt Disney từ các công viên giải trí, khách sạn, cửa hàng, các xưởng phim và âm thanh... trong 9 tháng đầu của năm 2006 lên tới 25,5 tỷ USD.

CÔ BÉ 12 TUỔI ĐỖ ĐẠI HỌC VỚI 598/600 ĐIỂM





Khi cầm trên tay tờ giấy báo trúng tuyển vào ĐH Nhân dân Trung Quốc, ông Doãn Đức Kiệt không giấu được cảm xúc sung sướng, tự hào còn mọi người thì bàng hoàng, kinh ngạc khi cô con gái bé bỏng của ông đã đỗ Đại học với 598 điểm. Tại sao lại ngạc nhiên đến thế ư? Vì con gái rượu của ông, Doãn Tiểu Vi, năm nay mới 12 tuổi!

Sinh sống tại thành phố Nam Xương, tỉnh Giang Tây (Trung Quốc), vợ chồng ông Doãn Đức Kiệt đã sớm nhận ra cô con gái Tiểu Vi của mình có trí thông minh đặc biệt từ khi em còn bé tí.

5 tuổi cô bé học tiểu học, 7 tuổi học cấp II, 9 tuổi vào cấp III. Và năm nay, khi vừa tròn 12 tuổi, Tiểu Vi đã đạt điểm số gần như tuyệt đối trong kỳ thi tuyển sinh ĐH của Trung Quốc.

Sở thích của cô bé thần đồng này là xem vô tuyến, đọc sách, học kịch cổ trang của Trung Quốc. Tiểu Vi cho biết: “Em đã đọc hơn 20 bản sách nổi tiếng. Đặc biệt, bộ sách mà em thích nhất là Hồng Lâu Mộng, em đã đọc tới 50 lần. Em cũng đã xem tới trên 400 tập kịch cổ trang”.



Nói về nỗ lực phấn đấu để thi vào đại học - kỳ thi khiến hàng triệu thí sinh và phụ huynh Trung Quốc lo lắng đến mất ăn mất ngủ - thế mà với cô bé 12 tuổi này thì nhẹ tênh: “Em đã cảm thấy mình có thể thi đỗ vào đại học bằng nỗ lực của mình từ trước, vì em sợ nếu không vào được trường ĐH Nhân dân Trung Quốc thì sẽ phải học lại và còn không được… xem tivi”.

Doãn Tiểu Vi còn tự tin khẳng định rằng: “Sau khi tốt nghiệp ĐH, sẽ học lên Cao học và chắc chắn sẽ làm luôn luận án Tiến sĩ”!

Nói về quá trình học tập của con gái cưng, ông Doãn Đức Kiệt tự hào kể lại: Từ năm 4 tuổi, Tiểu Vi đã thích xem vô tuyến và ông thường dạy con tập viết để làm quen với mặt chữ. Ông còn mượn những đĩa CD dạy trẻ em học tiếng Anh về cho con gái “luyện”, bởi trong các đĩa đó có nhiều trò chơi bằng tiếng Anh rất thú vị. Từ đó cô bé mê tiếng Anh luôn.

Thấy con gái có năng khiếu về ngoại ngữ, ông Kiệt thường xuyên đưa cô bé đến các trung tâm ngoại ngữ để em có thể giao tiếp với người nước ngoài.

Năm 5 tuổi, cô bé bắt đầu vào lớp 1 và chỉ trong 2 năm, Tiểu Vi đã kết thúc chương trình tiểu học một cách ngon lành mà các em bé khác phải học trình tự đến 6 năm. Khi được hỏi: “Làm thế nào Tiểu Vi có thể học hết chương trình tiểu học nhanh như thế?” Ông Kiệt cười không giấu nổi niềm hãnh diện: “Trung bình cứ vài tháng, Tiểu Vi đã học hết chương trình học của cả năm”. Và mỗi lần như thế, ông lại “phải” đưa cô bé đến gặp hiệu trưởng để xin được tăng cấp học cho Tiểu Vi!

Ông Doãn Đức Kiệt còn nói thêm về kinh nghiệm hướng dẫn cách học cho Tiểu Vi rằng, có đôi khi cô bé không hiểu rõ về vấn đề nào đó hay gặp phải 1 bài tập khó, ông không đưa ra đáp án ngay mà chỉ giải thích và dẫn giải để tự Tiểu Vi tìm ra lời giải. Có như thế mới tạo được sự hứng thú trong học tập cho con bé, và như thế “học mới vui, mà vì vui nên có kết quả cao” - ông Doãn đúc kết đơn giản.

TAKE THAT MƠ VỀ OSCAR





Nhóm nhạc Take That có vẻ như đang mơ tới một giải Oscar danh giá sau 10 năm dài vắng bóng trên thị trường âm nhạc thế giới.

Ban nhạc nam, vừa mới tái hợp năm ngoái sau 1 thập kỷ tạm lắng, đã thu âm ca khúc mang tên “Rule The World” cho bộ phim mới của Robert De Niro nhan đề “Stardust”. 4 chàng trai trong nhóm đã sẵn sàng chạm đích trong hạng mục Nhạc phim hay nhất của giải thưởng do&nbspViện Hàn Lâm tổ chức&nbspvào năm tới.

Một nguồn tin nói với tờ The Sun của Anh: "Đây rõ ràng là một cơ hội tốt cho nhóm nhạc này có thể giành được giải thưởng cao quý đó. Bài hát của họ là ca khúc&nbspchính và sẽ được phát đi phát lại trong suốt bộ phim, chắc chắn sẽ gây được ấn tượng với khán giả. Nhóm Take That trở lại sân khấu có vẻ êm xuôi hơn mong đợi. Nếu họ giành được giải thưởng này, con đường sự nghiệp của họ từ đó trở đi còn bằng phẳng hơn rất nhiều".

Rule The World được sản xuất bởi John Shank (người từng giành giải Grammy) và đương nhiên Gary Barlow vẫn là giọng ca chính cùng với Howard Donald, Jason Orange và Mark Owen.

Còn về&nbspStardust, một bộ phim phiêu lưu giả tưởng, do đạo diễn Matthew Vaughn thực hiện, có sự diễn xuất của các ngôi sao điện ảnh như: Sienna Miller, Claire Danes, Ian McKellen và Ricky Gervais. Các nhà sản xuất đặt kỳ vọng đây sẽ là một hit tầm cỡ thế giới.

Từ một ước mơ





Ngày 25 tháng 10 năm 2003, giáo sư Donald Knuth gửi một lá thư đến ban biên tập của tạp chí chuyên ngành thuật toán (Journal of Algorithms). Trong thư, ông phân tích giá cả xuất bản của các tạp chí chuyên ngành trong ngành lý thuyết khoa học máy tính.

Giá xuất bản của các bài báo chuyên ngành tính theo từng trang đã tăng quá nhanh. Ông so sánh giá tính theo lạm phát và giá tăng thực tế. So sánh cho thấy một số nhà xuất bản chuyên nghiệp đã lợi dụng các nghiên cứu khoa học, vốn bản chất là miễn phí và tự nguyên, để kiếm lợi quá đáng. Các ban biên tập và các người phê bình (review) các bài báo chuyên ngành đều nói chung là làm việc tự nguyện và miễn phí. (Đôi khi người trong ban biên tập có thể nhận một số tiền tượng trưng hoàn toàn không đáng kể.) Trong khi đó các thư viện phải trả một giá rất đắt để nhận các tạp chí chuyên ngành này. Ông đặc biệt nghiêm khắc với nhà xuất bản Elsevier, kẻ kiếm lợi quá đáng nhất.

Khi xưa thì các nhà xuất bản phải làm việc khá nhiều để có thể đăng một số báo. Nay thì nhờ có phần mềm miễn phí TeX của chính Don Knuth, các tác giả đều tự soạn thảo lấy bài báo của mình với chất lượng rất cao. Nói chung một nhà xuất bản chỉ là người đứng giữa, thu bài (đã soạn thảo) và làm việc in ấn và phát hành.

Lá thư này đã làm cho cả ban biên tập của Journal of Algorithms từ chức và tự thành lập một journal mới
. Một o&shynline journal miễn phí khác cho ngành lý thuyết tính toán cũng đã được thành lập. Online Journal of Combinatorics đã bắt đầu hành trình này khoảng năm 1995, và đã rất thành công. Giá trị khoa học và danh tiếng của một journal hoàn toàn nằm ở danh tiếng của ban biên tập, cho nên các o&shynline journal này, dù mới, đều là các journal đỉnh cao trong ngành.

Online journal trong thời đại chúng ta là đường đi cực kỳ hữu lý, nhất là đối với các nghiên cứu khoa học. Bất kỳ nhà khoa học chân chính nào cũng muốn công trình, ý tưởng của mình đến với người đọc nhanh chóng nhất, tiện lợi nhất, và ít tốn kém nhất (trong trường hợp này là miễn phí). Các nhà khoa học máy tính đều để các bài báo của mình ở homepage của họ, và có thống kê ở tạp chí Nature cho thấy các bài báo o&shynline được đọc và tham chiếu (referred/cited) đến nhiều hơn các bài khác. Với một webserver đơn giản và ít công bảo trì là phần cơ học của một journal đã được đảm bảo. Các công việc còn lại là biên tập và phê bình, chọn bài, thì các nhà khoa học đằng nào cũng đang làm.

Một vụ tương tự cũng đã xảy ra ở Machine Learning Journal vài năm trước, và toàn bộ ban biên tập của tạp chí này cũng đã thoái vị và thành lập o&shynline journal miễn phí Journal of Machine Learning Research.

Bản thân tôi tin tưởng tuyệt đối rằng tri thức của nhân loại thì cần phải được đến với càng nhiều người càng tốt, giá càng rẻ càng tốt, miễn phí là lý tưởng. Hành động giấu giấu diếm diếm tri thức và kiếm lợi trên tri thức của người khác là hành động hèn nhát đáng lên án. Có lẽ phải làm rõ điểm này. Tri thức được khám phá khác với các công trình sáng tạo mà chủ nhân hoàn toàn có quyền giữ bản quyền và thu lợi nhuận. Không ai có quyền mua bán phương trình sóng Maxwell, nhưng có thể bán thuốc chữa SIDA mới nhất. Điểm này dài dòng ta để khi khác. Hy vọng là qua ngữ cảnh của bài viết, các bạn hiểu tôi muốn nói gì.

Internet đã thay đổi cơ bản sự xuất bản, nhất là xuất bản khoa học.

Nghĩ đến đây, tôi có một mơ ước, rằng một ngày nào đó các sách giáo khoa của chúng đa được để trong một trang web nào đó, cho học trò tải xuống miễn phí, để người nghèo nhất cũng có thể nhờ ai đó tải xuống và in ra [và trả ít phí cho việc này], copy lại cho nhiều học sinh khác cùng dùng. Theo cách này, nhiều người có thể đọc sách giáo khoa, phê bình những chỗ sai đúng o&shynline, sách giáo khoa có gì sai thì có thể chữa ngay lập tức thay vì phải đi qua quá trình xuất bản và phân phối sách hiện nay. Ta vẫn có thể in một số ấn bản nhất định để phục vụ bạn đọc vùng sâu vùng xa trong khi chờ phổ cập Internet. Mô hình vừa cho miễn phí trên mạng vừa bán bản in đã được làm rất phổ biến và thành công ở Mỹ và cả Việt Nam (báo chí o&shynline là một ví dụ rất tốt).

Bộ giáo dục nói riêng và nhà nước ta nói chung đã tốn bao nhiêu tiền của cho việc soạn thảo sách giáo khoa, thì cách này sẽ có thể dùng tiền đó trả cho người viết sách và trả tiền thuê server và bảo trì server. Tại sao lại thêm một lớp cản kiếm lợi giữa tri thức và công chúng, trong khi phổ cập tri thức là chiến lược sống còn của Việt Nam?

2. Đến các vấn đề thực tế

Mơ ước trên phải chăng là lấy trăng đáy nước. Bạn có thể hỏi:

  • Trong tình trạng Internet chưa được phổ cập, người không có Internet thì làm thế nào? Có khá nhiều cách giải quyết vấn đề này. Ta thử nghĩ vài giải pháp “đơn giản”.
  • Ta vẫn có thể in một số ấn bản nhất định để phục vụ các nơi chưa có Internet. Ý tưởng này giống như các báo chí vừa có bản in vừa có bản o&shynline.
  • Ở các chỗ có Internet nhưng chưa phổ biến lắm, thì có thể lập các dịch vụ in ấn và copy địa phương. Việc phân phối này giống như phân phối/đóng gói phần mềm mã nguồn mở. Thậm chí có thể áp dụng luôn Gnu public lisence (GPL) vào sách. Chẳng phải ta dang có quốc sách phát triển mã nguồn mở hay sao?
  • Điều này hoàn toàn có thể tiến hành song song với việc phổ cập Internet, cho đến khi Internet đến mọi nơi thì cũng đã có nhiều sách o&shynline rồi.

· Thế các tác giả sách thì sống thế nào? Dĩ nhiên tác giả phải được trả công xứng đáng.

  • Với nhiều triệu truy cập liên tục trên các trang sách o&shynline này, tiền quảng cáo là một nguồn lợi không nhỏ.
  • Giống như phần mềm mã nguồn mở, các tác giả cũng có thể có tiền từ đóng góp của phụ huynh, các công ty, và nhà nước.

· Khi nội dung sách được “mở” cho mọi người phê bình, làm thế nào quản lý được sự hỗn độn này?

  • Một hệ điều hành phức tạp như GNU/Linux mà còn có thể mở toanh hoanh cho người ta đọc nguồn, chê bai, sửa chữa, thì không có lý do gì một quyển sách không quản lý được.
  • Thời gian trước có vụ một ông nhà thơ nào đó phê bình các tác giả viết sách giáo khoa Văn Học. Tôi thấy người ta trích dẫn lẫn nhau trên mặt báo, nhưng có khi trích dẫn thiếu ngữ cảnh, người đọc không có ai có thời gian đi kiểm chứng. Phê bình o&shynline thì năm năm rõ mười, mọi thứ rành rành ra đó.

Cái lợi của sách giáo khoa miễn phí thì vô cùng tận

  • Dần dần tiết kiệm công lao động và tiền bạc chuyên chở, phân phối, quan liêu, tham nhũng liên quan đến xuất bản đăng đầy trên mặt báo mỗi năm.
  • Các tác giả sẽ có trách nhiệm hơn khi bàn dân thiên hạ chủ động “soi mói” vào công trình của mình.
  • Sách có thể được viết nháp, cho mọi người phê bình trước khi cho vào chương trình. Vài triệu đôi mắt thì tốt hơn một hội đồng vài chục người, dù là chuyên gia đi nữa. Các lỗi thô thiển sẽ khó mà thoát khỏi quá trình này. Đây chính là cách mà các giáo sư viết sách ở nước ngoài vẫn làm. Thông thường họ giao bản nháp cho bạn bè, đồng nghiệp, dùng để dạy qua vài năm, cho đồng nghiệp và biết bao sinh viên góp ý, sửa chữa, trước khi in.
  • Các tài liệu, bài tập, hình ảnh, liên kết, thông tin có liên quan đến nội dung sách có thể được để o&shynline. Cả học sinh, sinh viên, lẫn thầy cô đều truy cập được. Tác giả có thể làm rõ điểm này, người dùng thắc mắc điểm kia. Cách học này cực kỳ pro-active và là phương pháp học tiên tiến. Học trò và phụ huynh có thể kiểm tra nếu thầy cô giáo dạy sai. Thầy cô giáo có thể dùng các thông tin liên quan làm cho phòng học sinh động hơn. Người ta có thể chia xẻ lẫn nhau kinh nghiệm học tập, giảng dạy đề tài đó.
  • Sách có thể được cập nhật thường xuyên hơn, ví dụ như thêm/sửa một chương cho phù hợp với tình tình hiện tại. Nếu dùng sách offline thì phải chờ rất lâu mới có thể phân phối đến người dùng.
  • Đây cũng là cách cực tốt để thanh thiếu niên và cả phụ huynh có động cơ dùng Internet theo hướng tích cực, thay vì chỉ vào chat-room tán gẫu. Người chưa có Internet thì có động cơ để kết nối Internet, để mua máy tính mới, thúc đẩy thị trường công nghệ cao.
  • Với từng cá nhân thì một máy tính, một máy in, qua mười mấy năm học, sẽ rẻ hơn đi mua cả trăm quyển sách giáo khoa.

Còn một lý do tối quan trọng nữa.

3. Hướng đến tương lai

Người truyền cảm hứng cho ước mơ trên là tiến sĩ Richard M. Stallman (thường được gọi là RMS), cha đẻ của phong trào phần mềm miễn phí của thế giới. Tôi không thể nghĩ ra một lập trình viên, một hacker nào giỏi hơn RMS (kể cả Linus Torvalds và Bill Gates). Hệ điều hành Linux đáng lẽ phải được gọi là hệ điều hành GNU với lõi Linux (như kiểu máy tính Dell với bộ vi xử lý Intel). Coi Linux như một hệ điều hành đứng riêng là một trong những hiểu lầm cực kỳ đáng tiếc, rất tiếc là khá phổ biến. GNU là công trình con đẻ của RMS. Nhưng thôi, chuyện này ta để dịp khác.

Không chỉ là bậc thầy về kỹ thuật máy tính, RMS có ước mơ làm cho cả thế giới có thể dùng, sửa đổi, phân phối, thậm chí buôn bán, các phần mềm miễn phí. Theo nhiều nghĩa, triết lý này của ông tương đồng với ý tưởng rằng tri thức của nhân loại phải đến với chúng ta nhanh chóng và không tốn kém. Việc các nước chậm phát triển mua phần mềm của các tập đoàn lớn, đối với RMS, là một dạng thuộc địa hóa hiện đại. Người ta sẽ bị ràng buộc một cách rất khó chịu vào các phần mềm đắt tiền này, mà lại không biết trong chúng thật sự viết gì (ví dụ có thể có phần gián điệp cài đặt vào). RMS cũng đứng đầu phong trào chống software patents, một trong những loại patent vô lý nhất trên đời.

Rồi tôi nghĩ đến một viễn cảnh lớn hơn, khi mà các bài giảng, sách vở ở tất cả các bậc học ở Việt Nam cũng đều miễn phí. Ta sẽ có một thư viện o&shynline khổng lồ. Kiến thức sẽ đến với bất kỳ ai sau một cái click con chuột. Chẳng phải đấy là mục đích tối hậu của phổ cập giáo dục? Tôi đi tìm lòng vòng trên Internet và đã tìm ra bốn dự án có chung chí hướng này.

Dự án thứ nhất là của nhà xuất bản kỹ thuật máy tính số một thế giới: nhà xuất bản O’Reilly với “dự án sách mở” (Openbook Project). Các quyển sách ở đây được đăng ký với vài loại lisence khác nhau, như GNU Free Documentation Lisence, Open Publication Lisence, GNU General Public Lisence, và bản thân O’Reilly cũng có rất nhiều sách theo Creative Commons Founders’ Copyright. Về tinh thần, các lisences/copyright này đều giống ước mơ của RMS.

Dự án thứ hai là tự điển bách khoa toàn thư miễn phí Wikipedia. Với khoảng 300,000 đề mục, Wikipedia là tự điển bách khoa toàn thư lớn nhất thế giới. (Quyển bách khoa toàn thư của Britanica có khoảng 85,000 đề mục – số liệu tháng 7/2004.) Chất lượng của Wikipedia rất cao, và tôi dùng nó thường xuyên. Mô hình nhiều người đóng góp mang tính phân bố (distributed contribution) của Wikipedia là mô hình đáng học tập cho việc phổ cập kiến thức.

Dự án thứ ba là dự án gnowledge của trung tâm giáo dục khoa học Homi Bhabha của Ấn do giáo sư Nagarjuna chủ xướng. Tinh thần của dự án này cũng là kiến thức miễn phí.

Dự án cuối cùng là dự án Open Courseware của viện công nghệ Massachusetts. Ở đây rất nhiều bài giảng của các giáo sư hàng đầu thế giới được để mở cho mọi người cùng truy cập.

Một thư viện o&shynline khổng lồ bằng tiếng Việt (dĩ nhiên không phải chỉ có sách giáo khoa). Sách vở, bài giảng, trao đổi miễn phí. Học sinh nghèo nhất cũng có khả năng liên lạc với bậc thầy nổi tiếng nhất. Một môi trường học tập, tham khảo, mà ai cũng có cơ hội tham gia, bổ túc cho nhau, học hỏi lẫn nhau. Hay cũng chỉ là một mơ ước, và chúng ta lại đi chậm hơn thế giới?

Tất cả có thể bắt đầu bằng một ước mơ.

KHAI SINH ƯỚC MƠ





Trong chiếc áo đời phẳng lặng, ta bước ra bầu trời rộng lớn mang theo những ước mơ của riêng mình. Những ước mơ ấy được nuôi dưỡng theo năm tháng để làm đẹp thêm cho cuộc đời. Tuy nhiên, ước mơ của ta không thể lớn lên bình yên mà phải trải qua bao thăng trầm, bao thử thách, có lúc lại đi lầm đường lạc lối.

Có một câu chuyện kể rằng, có một con chim nhỏ bị chiếc gai của bụi mận cắm vào ngực. Bản thân nó không biết sức mạnh nào buộc nó lao vào mũi nhọn ấy và nó chết trong khi tiếng hót vẫn còn đủ sức cất lên giữa cuộc đời. Lúc mũi gai xuyên qua tim nó, nó không nghĩ đến cái chết đang cận kề, không nghĩ đến giọng hót nó sắp đến lúc mất tiếng, đứt hơi. Còn con người chúng ta, khi đứng trước những cám dỗ, những thử thách của cuộc đời chúng ta biết, chúng ta hiểu. Nhưng có lúc ta vẫn lao vào như con chim nhỏ lao ngực vào bụi mận gai. Sẽ mãi mãi như thế nếu không có ước mơ hoặc xem ước mơ chỉ là một danh từ trừu tượng. Có thể dẫn ra đây những ví dụ về những con người đã bị đánh mất ước mơ.

1. Thật hạnh phúc cho những ai có đủ dũng khí để sống và chết vì một tình yêu, một lý tưởng đeo đẳng suốt cuộc đời mình. Thế nhưng, xung quanh ta cón nhiều lắm những người trẻ tuổi sống không có hoài bão, không say mê lý tưởng? Có bao giờ ta tự hỏi rằng: Mình đã sống tồi, sống tệ đến thế nào?
Giảng đường đại học đang từ từ khép lại trước mặt những một số người bởi tính đào thải ngặt nghèo và yêu cầu gắt gao của nó. Những người con gái, con trai của hương đồng gió nội, những con người tuổi mười tám đôi mươi kết thúc con đường học vấn của mình quá sớm. Họ lại trở về với nếp sống quen thuộc, loanh quanh trong ao làng, lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái. Một cái vòng quẩn quanh không thoát ra được. Họ cũng có những ước mơ, hoài bão nhưng những ước mơ, hoài bão của sức trẻ đó bị những lo toan đời thường làm cho héo hon già cỗi và tan biến đi. Họ không thể vượt qua được nên đành chấp nhận. Có cách nào để sức trẻ ấy thoát khỏi vòng tù túng này chăng? Xã hội làm sao có thể can thiệp khi chính bản thân họ không tự vận động, khi chính họ chấp nhận cuộc sống tẻ nhạt như vậy.

2. Ngày nay cũng có một bộ phận những thanh niên không biết đến khái niệm lý tưởng đích thực của cuộc sống. Họ có vẻ tâm đắc với “lý thuyết hưởng thụ” của mình. Mỗi ngày trôi qua của họ bây giờ là những cuộc đua tốc độ, coi giảng đường là sàn nhảy, là vũ điệu ái tình, là sàn diễn thời trang. Lý tưởng của họ là những con xe đời mới, những bộ cánh đắt tiền, những cuộc chơi thâu đêm… Họ như con chim bị chiếc gai của bụi mận cắm vào lồng ngực, họ không biết đến hậu quả phía trước, hoặc cố lờ đi để chạy theo những ham muốn tầm thường. Họ là con của những gia đình có “đẳng cấp”, có khả năng vung tiền như trấu, có cách thức chạy tội siêu đẳng. Mục tiêu của họ là những cuộc chơi. Họ cần gì phải ôm ấp ước mơ, hoài bão. Họ đã chi tiêu cuộc đời họ một cách vô bổ bằng những đồng tiền không phải của họ. Họ tự biến mình thành con rối trên sàn diễn cuộc đời.

Hai đối tượng trong hai ví dụ trên đối lập nhau về lối sống nhưng cùng chung nhau về đặc điểm: hà tiện, dè sẻn những ước mơ đích thực. Họ là những kẻ lỡ cở lờ đờ, sống nheo nhóc với những lý tưởng còi cọc chẳng đủ khoấy động chút nào cái ao đời vốn đã vô cùng yên tĩnh, họ chẳng dám bước ra bầu trời rộng lớn bằng chính đôi chân của mình .
Chợt nhớ đến câu thơ trong bài “Mùa lá rụng” của Onga Becgon:
Nếu chẳng còn gì mơ ước trong tôi
Thì có nghĩa chẳng còn gì để mất.
Ước mơ chắp cánh cho con người đến với những điều tốt đẹp. Chúng ta tựa vào những ước mơ, những tin yêu của chính mình để sống có ý nghĩa. Dẫu đã cống hiến hết mình nhưng ước mơ không thành hiện thực, thì điều đó cũng cho bạn kinh nghiệm để bạn thực hiện ước mơ khác. Hay đó chỉ là cống hiến nhỏ bé thì đó cũng là “một chiếc lá rơi cho đất thêm màu”. Vậy thì hãy luôn có những ước mơ, luôn hành động biến ước mơ thành hiện thực, đừng xem ước mơ “chỉ là nghệ thuật trang trí vô ích cho loài người” bạn nhé.

TỪ ƯỚC MƠ QUẢNG BÁ VIỆT NAM – ĐẤT NƯỚC TÂM LINH







Một người trẻ, thông qua diễn đàn Bay lên Việt Nam, đã tìm thấy cơ hội được dành tặng dự án như một món quà cho cả cộng đồng. Xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

"Tôi xin gửi lời cám ơn tới VietNamNet - đơn vị tổ chức diễn đàn Bay lên Việt Nam đầy ý nghĩa, nơi đã đặt những viên gạch đầu tiên cho công cuộc khơi dậy tinh thần dân tộc, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống trong kỷ nguyên &nbspmới của đất mẹ Việt Nam".

Đó là lời đầu tiên mà chị Trần Thị Thu Hà - người ôm ấp ước mơ quảng bá hình ảnh Việt Nam, đất nước tâm linh tới bạn bè năm châu - &nbsptrân trọng gửi tới VietNamNet.

Trong khuôn khổ dày dặn hơn bảy chục trang đánh máy, bản dự án Định vị & Quảng bá hình ảnh Việt Nam thông qua lĩnh vực du lịch soạn thảo rất công phu này được tác giả chia thành 5 phần chính.

Từ việc đua ra những nhận xét tổng quan về định vị Việt Nam và chiến lược quảng bá ở phần 1, tác giả đi sâu vào phân tích những lý do định vị một Việt Nam - đất nước tâm linh như: Tìm lại “con người” thật của dân tộc Việt Nam , thông qua những giá trị tinh thần Việt Nam, thông qua công cuộc dựng nước và giữ nước cùng các hình thái trong sinh hoạt cuộc sống ở phần thứ hai.

Với phần tiếp theo, tác giả đưa ra một đề xuất khá thú vị: Việt Nam nên chọn trống đồng Ngọc Lũ làm biểu tượng quốc gia, để từ đó tạo tiền đề cho việc xây dựng một bản kế hoạch vô cùng chi tiết cho ngành du lịch Việt Nam - giai đoạn từ năm 2007 tới 2015 ở phần 4. Ba điểm nhấn được nữ tác giả chọn làm chủ đề xây dựng những Năm du lịch VN bao gồm: Giá trị tinh thần &nbsplịch sử hào hùng, thịnh vượng được đặt trong tính nhân văn &nbspthiên nhiên – con người – vũ trụ hoà quyện vào cuộc sống.

Trong phần cuối cùng của dự án, chị Thu Hà đã hình thành một kế hoạch rất chi tiết giúp quảng bá hình ảnh và du lịch Việt Nam, giai đoạn 2007 -2015 tới tất cả các đối tượng trong và ngoài nước người Việt Nam, người nước ngoài và cả cộng đồng Việt kiều ở xa Tổ quốc.

Một người trẻ, thông qua diễn đàn Bay lên Việt Nam, đã tìm thấy cơ hội được dành tặng dự án như một món quà cho cả cộng đồng, nhằm mang lại lợi ích thật nhiều cho đất nước, cho đồng bào Việt Nam.

Tốt nghiệp khoa Quản trị kinh doanh - Trường dân lập Quản trị kinh doanh và công nghệ, Thu Hà đưa ra lý do rất giản dị: “Từ nhỏ, tôi vốn yêu thích du lịch, kinh doanh. Lớn lên, tôi cứ băn khoăn mãi với câu hỏi: Đất nước mình nhiều tiềm năng mà sao dân mình chưa giàu, ngành du lịch vẫn còn nhiều yếu kém? Và bản kế hoạch này của tôi, hy vọng sẽ là câu trả lời thiết thực nhất".

Gửi gắm dự án này cho cuộc vận động Bay lên Việt Nam, chị tâm sự: “Với tôi, phần thưởng lớn nhất là sớm được thấy một hình ảnh Việt Nam phát triển hưng thịnh, giàu giá trị nhân văn và và tràn đầy tình yêu thương".

Mời các bạn bấm vào đây để xem toàn bộ&nbspdự án Định vị & Quảng bá hình ảnh Việt Nam thông qua lĩnh vực du lịch.

Thứ Hai, 19 tháng 4, 2010

TIẾN SỸ OXFORD VÀ ƯỚC MƠ TIỆU DIỆT HOÀN TOÀN MUỖI BỆNH





Những chuyến thực tế khắp các nẻo đất từ Bắc chí Nam. Nhiều lần chết hụt trên đường công tác. Say mê thí nghiệm với hàng ngàn con muỗi gây sốt rét. Tham vọng tiêu diệt hoàn toàn muỗi bênh. Hoàng Kim Phúc đã được gọi là tiến sỹ "muỗi" nhờ những đam mê ấy.

Lấy thân mình nuôi muỗi để nghiên cứu

Năm 90-91 của thế kỷ trước, đang ở những năm cuối cùng của trường ĐH, Phúc chọn cho mình đề tài di truyền muỗi sốt rét với suy nghĩ thật đơn giản: Căn bệnh sốt rét ở Việt Nam đã&nbspcướp đi sinh mạng hàng ngàn chiến sĩ thời chiến và người dân.

Phải làm điều gì đó… Một ước mơ mong manh của tuổi trẻ đầy nhiệt huyết đã đưa anh đến những cánh rừng sâu từ Bắc chí Nam. Ăn đói mặc rách, nằm làm mồi nhử trong rừng sâu cho muỗi độc đốt để có thể bắt chúng làm thí nghiệm..., chính Phúc đã bị căn bệnh sốt rét làm khổ.

Khó có thể nói trong quãng đời khoa học của mình anh sẽ quên đi những lần chết hụt trong gang tấc: Một lần đang trên sông nước thì bị vỡ bè, sinh viên của anh đã nhảy xuống nước, đẩy bè qua sông an toàn có lần đổ xe suýt mất mạng bên biên giới Việt - Lào, lần bị đuổi đánh do lần mò trong rừng sâu bị hiểu lầm...

Rồi tất cả cũng qua. Nhờ sự kiên trì, nhẫn nại, chàng trai trẻ đã khắc họa được bức tranh đa chiều về con muỗi gây sốt rét ở nước ta và các nước láng giềng.

Chừng ấy thời gian, anh đi đi về về giữa 2 đất nước, thu mẫu và nghiên cứu tại 36 điểm khác nhau ở Đông Dương và biên giới Việt-Trung. Công việc chẳng phải dễ dàng chút nào khi anh phải cố gắng qua các cửa khẩu hải quan các nước với những con muỗi&nbspgây bệnh “chết người” này.

Ấy vậy mà hàng ngàn con muỗi đã đi qua biên giới bằng sự khôn khéo, trí thông minh của nhà khoa học trẻ đất Việt để làm nên kết quả của ngày hôm nay.

Các nghiên cứu&nbspvề muỗi ở các nước khác nhau thường chỉ dùng các phương pháp khác nhau vì chỉ mạnh ở một vài phương pháp nào đó và vì vậy diện mạo của thủ phạm truyền bệnh được mô tả thường không nằm trong một hệ quy chiếu, ở nhiều chỗ, nhiều nơi nên đã đem lại những ngộ nhận kiểu như “thầy bói xem voi” và dẫn đến không chính xác về mặt dịch tễ học.

Bài học “chớ thấy lá cong lên thì lại bảo là một loài, thấy lá cụp xuống là nghĩ ngay đó là loài khác” anh đã học được ở GS Phan Đình Diệu.

Chàng trai VN đã sử dụng hầu hết các phương pháp và phương tiện hiện có, từ phương pháp cổ điển đến phương pháp cập nhật mới nhất. Bốn loài muỗi khác nhau có tập tính khác nhau, thích nghi với những điều kiện địa lý sinh thái khác nhau ở VN, Lào, Cam-pu-chia, Trung Quốc, Thái Lan.

Những điều anh tìm thấy sẽ kết thúc nhiều tranh cãi về thành phần véc-tơ truyền bệnh và giúp hoạch định các phương án đối phó hữu hiệu hơn đối với mỗi loài này khi chúng sống xen kẽ nhau ở nhiều khu vực, đặc biệt là ở VN.

Tham vọng: Tiêu diệt hoàn toàn muỗi truyền bệnh

Kết quả nghiên cứu của nhà khoa học trẻ VN đã chinh phục được các giáo sư ở một trường ĐH danh giá như Oxford. Sau khi kết thúc luận án Tiến sĩ, anh được trường này dành cho một vị trí nghiên cứu sau Tiến sĩ vào năm 2002.

Anh chỉ có 2 ngày nghỉ giữa 2 bậc học Tiến sĩ và sau Tiến sĩ. Thực chất công việc của anh là công việc của một cán bộ nghiên cứu độc lập nằm trong khuôn khổ một dự án lớn của cả nhóm nghiên cứu.

Vừa nghiên cứu vừa tham gia hướng dẫn sinh viên, nghiên cứu sinh về muỗi (cả muỗi sốt rét và sốt xuất huyết). Cậu trò xưa nay đã lên bậc thầy của các nghiên cứu sinh.

Công việc của anh ngày nay là cố gắng chuyển gene gây chết vào muỗi và tìm hiểu các cơ chế bật tắt nhân tạo hay tự nhiên của di truyền học nhằm điều khiển các gene đó vào quần thể tự nhiên với hy vọng sẽ có ngày tiêu diệt hoàn toàn một loài muỗi truyền bệnh.

Hiện Viện Pasteur Paris đang được phép nuôi giữ các dòng muỗi sốt&nbspxuất huyết do Hoàng Kim Phúc tạo ra và theo kế hoạch trong vài năm tới họ sẽ đem thử nghiệm thực địa tại một số viện Pasteur vùng nhiệt đới, trong đó có Việt Nam.

Con đường khoa học còn rất dài, ở Việt Nam không có đủ phương tiện để nghiên cứu. Đó cũng chính là lý do anh ở lại nước bạn để làm&nbsptrọn vẹn ước mơ của một nhà khoa học trẻ VN.

Anh kể, ở xa đất nước là cả một nỗ lực, cha mẹ anh phải hy sinh nhiều. Theo anh, xa Tổ quốc cũng là một hy sinh của các nhà khoa học, nhìn về một khía cạnh nào đó.

Thành quả nghiên cứu của anh sẽ từng bước được ứng dụng vào việc tiêu diệt loài muỗi gây sốt rét ở VN. Đó là niềm tin giúp anh có đủ ý chí để đi về phía trước