Thứ Tư, 21 tháng 4, 2010

ĐÊM HỘI KẾT NỐI ƯỚC MƠ





Đêm hội Kết Nối Ước Mơ – đêm khởi động cho chương trình truyền thông Ước Mơ Việt Nam sẽ được tổ chức vào lúc 20 giờ ngày 30/09/2006, tại Nhà hát Bến Thành (TP.HCM) và truyền hình trực tiếp trên sóng VTV1. Chương trình với sự phối hợp tổ chức của Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại TP.HCM (VTV), Công ty Vietbooks, Ngân hàng TMCP Phương Đông.

Đêm hội Kết nối Ước mơ tổng kết chặng đường 5 năm đã qua của chương trình Những Ước mơ xanh từ những ngày đầu khó khăn.

Trong 5 năm qua, đã có rất nhiều số phận con người được giới thiệu đến với công chúng. Nhờ đó, đã có nhiều khó khăn được chia sẻ, nhiều tình cảm được trao gửi, và nhiều nhân vật đã vươn lên thành công trong cuộc sống. Trong đêm hội, những nhân vật tiêu biểu của Những Ước mơ Xanh một lần nữa gặp gỡ với khán giả để tâm sự về những nỗ lực vươn lên trong cuộc sống của họ. Đồng thời, những cá nhân và tổ chức đã đồng hành cùng Những Ước mơ xanh trong suốt năm năm qua cũng được giới thiệu và tôn vinh.

Mong muốn kế thừa thành quả của Những Ước Mơ xanh, đồng thời cũng đưa ước mơ của con người Việt Nam lên một tầm cao mới, khơi gợi những ước mơ có sẵn trong lòng mỗi con người Việt Nam và kết nối cộng đồng con người Việt Nam, đêm hội Kết nối Ước mơ&nbsplà đêm&nbspNhững ước mơ xanh tạm khép lại, và Ước Mơ Việt Nam chính thức ra đời với ý nghĩa: Chương trình truyền thông Ước mơ Việt Nam là một chương trình dành cho tất cả mọi người Việt Nam, với mọi lứa tuổi, mọi thành phần, mọi nghề nghiệp.

Đêm hội sẽ là một sự kiện quan trọng, mở đầu thành công cho chương trình truyền thông Ước mơ Việt Nam.

HỘI THI “NÉT VẼ XANH” & NHỮNG ƯỚC MƠ TRONG SÁNG





Hội thi “Nét vẽ xanh” năm 2005 diễn ra tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. HCM, có khoảng 30 trẻ em khiếm thị tham dự.

Những em bé không thể nhìn cuộc đời qua đôi mắt trong vắt, hồn nhiên như những đứa trẻ bình thường khác. Các em cảm nhận cuộc đời bằng tâm hồn, bằng ước mơ. Đôi mắt các em nhìn xa xăm bất động, nhưng đôi môi luôn mỉm cười lạc quan. Trong tâm hồn các em là cảnh yên bình của dòng sông quê hiền hòa, mát rượi, là ngôi nhà nhỏ thơ mộng với vườn cây, ngập tràn nắng, là lớp học rộn ràng, đông vui với mong ước “Mọi người thương yêu và xích lại gần nhau hơn”. Các em vẽ những ước mơ của mình trên trang giấy, thơ ngây, trong sáng như chính tâm hồn các em.

ƯỚC MƠ TUỔI 20





Ánh sáng lung linh của ngọn nến đang thắp lên ước mơ của tuổi 20.

Bức tường “Tuổi 20, tôi ước…” nơi ghi lại những ước mơ của tất cả mọi người, ước mơ của một thời, ước mơ đang thực hiện và cả ước mơ vừa hình thành.

Bài hát của Nguyễn Quý Lăng viết cho những con người mãi mãi mang ước mơ của tuổi 20.

Những bông hoa rạo rực ước mơ của tuổi 20.

Tuổi 20 ẩn chứa ước mơ, khát vọng và trí tuệ, tư duy.

BÍ QUYẾT THÀNH CÔNG CỦA ÔNG VUA DẦU MỎ JOHN DAVISON ROCKEFELLER





"Mai sau tớ sẽ trở thành ông chủ giàu có với 100 ngàn đô la tiền vốn." Đó là lời tuyên bố của John D. Rockefeller với những người bạn nhỏ của ông.

ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH ƯỚC MƠ

John D. Rockefeller (1839 – 1937) sinh ra và lớn lên trong một gia đình làm nghề buôn bán tại thành phố New York, trong một ngôi nhà hình hộp bình thường. Ông William A. Rockkefeller – bố của John là một chủ trang trại, William buôn bán nhiều thứ để kiếm sống như: tạp hóa, các loại thảo dược, da thú, muối, gỗ và cả việc hành nghề lang băm. Ông đặt rất nhiều hy vọng vào John. Được ông bố chăm chút, rèn đúc và truyền kinh nghiệm mua bán cho nên John sớm hình thành cung cách của một thương nhân. Ngay từ nhỏ, William tạo cho con trai cách ứng xử theo kiểu giao dịch khế ước, hàng tháng John đều được bố thanh toán cho một khoảng tiền công làm những việc lặt vặt. Dần dần, hình thành trong tâm tưởng John ý thức thương nghiệp.

Ngoài bố, John D. Rockefeller còn chịu ảnh hưởng rất lớn tâm tính cần cù chịu khó từ mẹ – bà Eliza. Mỗi ngày bà thức dậy vào lúc 4 giờ sáng để ra đồng làm việc, John cũng ra đồng phụ mẹ, giúp gia đình vắt sữa bò. Bà thường khuyên nhủ John về tư tưởng phần đấu trong khó khăn và cần mẫn tiết kiệm. Vì vậy, khi 60 tuổi, John đã phát biểu : Sống trong gia đình, tôi đã nhận được sự huấn luyện đặc thù.

HÀNH TRÌNH THỰC HIỆN ƯỚC MƠ

Ước mơ trở thành ông chủ giàu có âm ỉ cháy trong tâm trí, len lỏi trong từng tế bào khiến John không còn hứng thú học tập tiếp lên đại học. Ông chỉ có một khát vọng duy nhất là kiếm tiền. Năm 1855, khi John vừa tròn 16 tuổi, ông nghỉ học để đi học thêm khóa học ba tháng về thương mại, kế toán và ngân hàng. Sau đó, ông kiếm được một chân kế toán ở một hiệu buôn tại Houston với mức lương 4 Mỹ kim/ tuần. Tại đây, ông đã giúp cho hiệu buôn đạt được lãi suất kinh doanh cao nhờ vào bản tính làm việc cần mẫn cộng với khả năng kinh doanh thiên phú. Sau ba năm, lương ông lên 600 Mỹ kim, nhưng ông cho rằng đó là mức lương không xứng đáng và khi lời đề nghị tăng lương bị từ chối, ông nhận ra rằng đi làm thuê cho người khác thì hết đời cũng chắng khá lên được, muốn giàu, phải tự mình xây dựng cơ đồ.

Kết thúc ba năm đi làm thuê, John D. Rockefeller rẽ sang bước ngoặc mới. Ông hợp tác với người bạn có tên là Maurice Clark thành lập công ty chuyên kinh doanh các loại ngũ cốc, các loại thịt và các loại thực phẩm, lấy tên “Clark – Rockeleffer” khi chưa tròn 21 tuổi. Tuy nhiên, người bạn làm ăn của ông không tinh thông buôn bán và thường xuyên xảy ra những bất đồng nên John mua lại cổ phần của ông ta, chính thức trở thành ông chủ công ty năm 1865. Nhờ khả năng phán đoán thời cuộc và biết nắm lấy thời cơ nên công ty của John nhanh chóng phất lên thành một người giàu có trong mắt mọi người.

Năm 1861, cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ bùng nổ, giúp cho việc làm ăn của John trở nên thuận lợi. Ông cung cấp muối ăn và các loại vật tư khác cho quân đội. Số tiền ông tích cóp được đủ để cho ông chuyển sang một hướng kinh doanh khác. Từ năm 1863, John đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề dầu mỏ. Ông quan sát từng tốp người đua nhau khai thác dầu thô đưa ra thị trường, ông nhận ra vấn đề then chốt để đưa ngành dầu mỏ phát triển là việc lọc dầu. Ông bỏ ra một số tiền lớn để đầu tư vào ngành lọc dầu. Năm 1870, John D. Rockefeller thành lập công ty dầu mỏ nước Mỹ với số vốn đăng ký là 1 triệu đô la, được xem là công ty lớn nhất nước Mỹ. Sản phẩm từ công nghệ lọc dầu đã giúp cho sự nghiệp kinh doanh của John phất lên nhanh chóng. Ông áp dụng các biện pháp hữu hiệu như giảm giá thành và mua lại các công ty dầu mỏ khác, sáp nhập vào công ty mình. Dần dần ông khống chế thị trường dầu mỏ Mỹ.

Sau khi khống chế được ngành dầu mỏ nước Mỹ, John D. Rockefeller bắt đầu hướng ra toàn cầu. Ông thực hiện chiến lược kinh doanh lũng đoạn có tên “Hoa hồng nở”. Bằng tinh thần lao động kiên trì, ý thức làm giàu không lùi bước, ông đặt ra yêu cầu hết sức nghiêm ngặt cho bản thân và đưa ra quy luật cạnh tranh khốc liệt trên thương trường. Các đối thủ cạnh tranh với ông phải chịu ngạt thở đành chấp nhận thỏa hiệp. Năm 1877, công ty Mobil (Standard) của John đã quét sách những đối thủ cạnh tranh tại khu mỏ dầu, tại thành phố Philadelphia và Pittsburgh.

Đến cuối thế kỷ 19, các mỏ dầu ở Pennsylvania bắt đầu cạn kiệt, Rockefeller bắt đầu thăm dò sang New York, New Jersey và tiểu bang Ohio. Năm 1880, Mobil cung cấp 95% dầu mỏ tại thị trường Mỹ, 75% dầu mỏ thị trường Châu Âu. Sản phẩm của công ty này có ở nhiều nơi trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á… Mạng lưới bán hàng rộng khắp đã mang về cho Rockefeller nguồn lợi nhuận kết xù, giúp ông vươn lên hàng đầu bảng xếp hạng trong số những người giàu nhất nước Mỹ.

BÍ QUYẾT THÀNH CÔNG ƯỚC MƠ

Ước mơ làm giàu của John D. Rockefeller thành công bắt nguồn từ ý chí kiên định và tài năng quản lý. Chiến lược thôn tính các công ty dầu mỏ khác của John khiến cho cả xã hội cảm thấy bất bình. Bản thân ông bị giới báo truyền thông công kích mạnh mẽ, họ gọi ông là: đao phủ, lang sói, kẻ cướp, tội phạm, lưu manh, cướp đoạt miếng cơm manh áo của mẹ góa con côi, là con quỷ hút máu của người nghèo. Nhưng John không thay đổi kế hoạch của mình. Ông quan niệm rằng, cạnh tranh khốc liệt là quy luật của thương trường. Cá lớn nuốt cá bé là hợp với lẽ đời. Ông mở rộng thị trường, mở rộng phạm vi khai thác nhằm cung cấp dầu mỏ chất lượng tốt nhất, với giả cả rẻ nhất là hoàn toàn phù hợp, không có gì sai trái.

Đồng thời, John D. Rockefeller có một tài năng quản lý kiệt xuất. Ba tiêu chí ông đưa ra cho kế hoạch thực hiện ước mơ của mình là: tiêu chuẩn, nhân tài và tư vấn. Ông tâm nguyện, sản phẩm dầu mỏ của ông cung cấp ra thị trường phải đạt tiêu chuẩn tốt nhất. Từ khi mới thành lập cho đến khi nổi tiếng toàn cầu, sản phẩm Standard luôn đảm bảo chất lượng sản phẩm, đây chính là chính sách cơ bản để công ty tồn tại và phát triển. Thứ hai là tài năng, John luôn luôn cần những con người có tài năng và có quyết tâm đẩy sự nghiệp lên đỉnh cao, ông thu hút hàng nghìn nhân tài ưu tú. Đây chính là nguyên nhân quan trọng để công ty Mobil không bao giờ suy sụp. Theo các nhà lịch sử Mỹ đánh giá: Tập đoàn dầu mỏ Mobil đã thu gom những người làm việc đắc lực nhất về cho mình. Họ là một cơ cấu kinh tế có rất nhiều nhân tài. Tất cả họ đều giàu có. Khi họ bàn bạc vấn đề thì rõ ràng giống y như nội các của chính phủ đang mở hội nghị. Mỗi nhân viên của Mobil là một nhân tài được uốn nắn theo “tinh thần Mobil”, chịu sự khống chế nghiêm ngặt của Rockefeller và được bồi dưỡng xứng đáng. Cuối cùng, Rockfeller là một con người xem việc tư vấn là mạng sống cho sự cạnh tranh thị trường. Ông sử dụng nó như một phương thức để mở rộng thị trường, lôi kéo các nhân tài về phía mình và xây dựng Mobil ngày càng lớn mạnh.

Ước mơ trở thành người giàu có đã trở thành hiện thực nhưng đối với John D. Rockefeller, giàu có không phải là tất cả. Hãy suy ngẫm điều ông từng nói: Tôi tin chắc rằng, ai đó quan niệm tiền sẽ mang lại hạnh phúc là hoàn toàn sai lầm. Kẻ giàu có nhất cũng giống như mọi người trong chúng ta, giả sử họ có được niềm vui nhờ thừa tiền, thì niềm vui đó cũng bắt nguồn từ việc ngoài bản thân ra họ còn làm được nhiều việc tốt khiến người khác mãn nguyện. Như lời ông nói, nhờ giàu có, ông đã có điều kiện giúp đỡ mọi người, ông từng trợ giúp 500 triệu đô la cho nghiên cứu y học, giáo dục đại học và giáo hội Sáng lập qũy Rockefeller (1913) với tôn chỉ “đem hạnh phúc đến cho nhân loại”.

Thành công của ước mơ chỉ dành riêng cho một cá nhân nhưng kết quả của nó đem đến hạnh phúc cho nhiều người, đó chính là trường hợp của Vua dầu mỏ John Davison Rockefeller.

SHOSHANA LARA WOO - ƯỚC MƠ SỐNG VÌ NGƯỜI KHÁC





“Cái đẹp của cuộc sống là biết sống vì người khác”- Đó là phương châm sống cô gái Mỹ mang hai dòng màu Trung Quốc và Việt Nam Shoshana.

Cô tốt nghiệp đại học tại một trường danh tiếng bậc nhất nước Mỹ: Trường Yale, ngành Sinh học và trúng tuyển vào Đại học&nbspY khoa Duke (Mỹ). Nhưng cô chọn giải pháp sang Việt Nam với mong muốn “vừa được học thêm tiếng Việt vừa được làm nghiên cứu sinh về tâm lý trẻ đường phố tại Việt Nam. Hơn nữa, Việt Nam là một phần máu thịt thiêng liêng của tôi…”

Shoshana trở thành cô giáo Mỹ của trẻ em đường phố và những trẻ em bất hạnh Việt Nam. Cô dạy vẽ cho các em để biết được suy nghĩ và ước mơ của các em, để các em được vui chơi, giải trí. Ngoài lớp vẽ, cô còn tình nguyện dạy Anh văn miễn phí cho trẻ em đường phố và cả những người có HIV/AIDS. Cô có thể dạy ở bất cứ đâu, trên bãi cỏ hoặc trên vỉa hè. Cô mơ ước trở thành bác sĩ khoa nhi của Liên Hiệp Quốc để góp phần chia sẻ trách nhiệm và xoa dịu nỗi đau của những trẻ em bất hạnh trên thế giới. Ước mơ của cô xuất phát từ tấm lòng nhân ái đối với những cảnh đời không may mắn. Một lý tưởng sống mà nhiều người cần phải học tập.

WILLIAM SHAKESPEARE - GỬI NHỮNG ƯỚC MƠ TRONG TỪNG VỞ KỊCH





William Shakespeare (1564-1616)được mệnh danh là “linh hồn của thời đại”. Ông là nhà thơ, nhà viết kịch đầu tiên ở nước Anh, là tác giả tiêu biểu nhất trong thời kỳ văn hóa phục hưng Châu Âu. Cả cuộc đời ông sáng tác tất cả 37 vở kịch, 154 bài mười bốn dòng, 2 bài thơ dài và các thể loại thi ca khác. Những tác phẩm của ông được công nhận là tác phẩm kinh điển mang tính mô phạm, được dịch ra hơn 70 ngôn ngữ và có ảnh hưởng sâu rộng trên toàn thế giới.

ƯỚC MƠ VỀ MỘT XÃ HỘI ỔN ĐỊNH

Trong giai đoạn sáng tác thứ nhất (1566-1600), Shakespeare có đến chín kịch bản viết về đề tài lịch sử. Đây là giai đoạn nước Anh đã giành được bá quyền trên mặt biển và trở thành cường quốc thế giới. Kinh tế trong nước phát triển, xã hội ổn định, quyền lực tập trung trong tay nhà vua, tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn được truyền bá rộng rãi. Trong tác phẩm của Shakespeare ở thời kỳ này mang một sức sống sôi nổi, một tinh thần bồng bột lạc quan và một lý tưởng xây dựng một trật tự mới của chủ nghĩa nhân văn. Những vở kịch lịch sử của ông là những bức tranh toàn cảnh về đời sống xã hội, tinh thần chống lại cát cứ phong kiến và ủng hộ vương quyền. Đây là sản phẩm độc đáo trong nền kịch nước Anh.

Vở kịch King John thể hiện sự kiện lịch sử của thế kỷ XII – XIII. Các vở khác tập trung thể hiện sự chao đảo và thay đổi của xã hội Anh từ sau thế kỷ XIV và thế kỷ XV. Shakespeare xây dựng những nhân vật theo từng tầng lớp xã hội như nhà vua, giới quý tộc, hiệp sĩ, thị dân, binh sĩ, nông dân và cả những thành phần lưu manh, gái điếm. Tất cả phản ánh sự tan rã của xã hội phong kiến Anh và tham vọng ổn định xã hội của giai cấp tư sản, tuy vẫn còn mờ nhạt.

Từ năm 1590 đến năm 1591, vở kịch lịch sử Henry VI ra đời. Vở kịch kể về một nhà vua nhu nhược Henry VI trị vì đất nước suốt năm mươi năm liền và dẫn đến tình trạng đất nước lâm nguy. Thực tế nước Anh trong thời kỳ này đang bị thù trong giặc ngoài, khói lửa chiến tranh liên miên. Tiếp theo tiến trình lịch sử là vở Richard III ra đời năm 1592, câu chuyện kể về việc Richard sát hại Henry VI và sau cái chết của Edward IV, Richard đã âm mưu sát hại sáu người kế thừa ngôi vua hợp pháp và xúi bạo loạn để đưa ông ta lên làm vua. Nhân vật Richard III mang tính chất điển hình của nhân vật lịch sử, một bạo chúa đầy tham vọng, xảo trá, độc ác, nham hiểm. Đến vở Henry IV, nhân vật Sir John Falstaff được xây dựng hết sức sáng tạo, đó là một gã hiệp sĩ chỉ biết ăn chơi và háo sắc. Khi ra chiến trường, gã giả vờ chế để bảo tồn tính mạng, thể hiện một lớp người trong xã hội chuyên lợi dụng tình hình xã hội để vơ vét hưởng lạc. Ngoài ra, Shakespeare còn mang vào trong kịch của ông cả một giai đoạn lịch sử suốt hơn 200 năm của nước Anh như vở Henry V (1598) và Henry VIII (1612). Ông lên tiếng khiển trách những cuộc chiến tranh đẫm máu của giới quý&nbsptộc phong kiến, bày tỏ nguyện vọng thống nhất quốc gia, ổn định xã hội. Qua những vở kịch của mình, ông cũng vạch trần những mâu thuẫn của thời đại, phản ánh lý tưởng của giai cấp tư sản mới vươn lên.

ƯỚC MƠ VỀ TÌNH YÊU ĐẸP

Kịch vui của Shakespeare nói lên nguyên tắc của chủ nghĩa nhân văn và giành được sự thành công trong đời sống của dân gian và của cá nhân. Ca ngợi cái đẹp trong tình yêu và tình bạn. Đề cao quyền tự do yêu đương. Nhân vật chính thường là những chàng trai dũng cảm cao thượng và những cô gái dịu dàng nhưng có ý chí cứng rắn. Trí tuệ và lòng trung thành luôn giúp họ vượt qua nghịch cảnh và chiến thắng bọn tà ác.

Những vở kịch vui đầu tay của Shakespeare như Hài kịch của sai lầm (1592), Thuần lương và hung hãn (1593) chưa hoàn thiện về mặt nghệ thuật cũng như chưa sâu sắc về mặt nội dung. Từ năm 1595, những vở kịch vui đã đạt đến mức hoàn hảo. Vở Mộng đêm hè (1695) là vở kịch vui mang tính ảo tưởng. Vở Người lái buôn thành Venice có nội dung phong phú, tư tưởng sâu xa, nhân vật nổi bật và ngôn ngữ tuyệt hay. Đó là câu chuyện kể về nàng Portia thông minh, xinh đẹp và dũng cảm đã dám cải trang thành một nam cố vấn pháp luật để xử tên Shylock, một kẻ xem tiền trên hết và cứu lấy Antonio, một người bạn chân thành của người yêu cô. Hình tượng về một cô gái lý tưởng của chủ nghĩa nhân văn, lòng nhân ái và bản tính lương thiện chiến thắng lòng tham lam và bản tính gian tà.

Và hàng loạt vở kịch vui khác như Chuyện không nói có (1598), Đều là chuyện vui lớn (1599), Đêm thứ mười hai (1600) là những sáng tác miêu tả tình yêu của những chàng trai cô gái phải trải qua nhiều trở lực để giành lấy hạnh phúc trong tình yêu. Dù gặp bao nhiêu khó khăn, trắc trở nhưng với tinh thần lạc quan, biết tin vào cuộc sống tốt đẹp phía trước để khẳng định cái đẹp của tình yêu là sự mãnh liệt và thuần khiết chính là ước mơ của tác giả.

Với góc nhìn của một con người từng trải, tình yêu không phải lúc nào cũng màu hồng, chế độ xã hội và những định kiến đã tạo ra những thảm kịch tình yêu. Vở Romeo và Juliet (1594) là một điển hình. Đôi tình nhân theo đuổi hạnh phúc tình yêu tới cùng. Họ đã lấy cái chết để phản kháng lễ giáo phong kiến và&nbsphoá giải mối hận thù truyền kiếp của hai gia tộc lớn là Montague và Capulet. Cái chết của chàng trai và cô gái trẻ như ánh hào quang xua tan đi bóng tối của hận thù. Tình yêu lý tưởng của chủ nghĩa nhân văn chiến thắng lễ giáo cũ kỹ.

ƯỚC MƠ HÓA GIẢI NHỮNG MỐI XUNG ĐỘT XÃ HỘI

Không mang không khí lãng mạn vui tươi và lý tưởng lạc quan tốt đẹp của những vở kịch vui, bi kịch của Shakespeare mang suy tư nặng nề về các mối xung đột. Lý tưởng nhân văn và hiện thực xấu xa của xã hội là hai mặt đối lập được ông thể hiện trong từng vở kịch. Vào cuối thời kỳ thống trị của nữ hoàng Elizabeth, các thế lực phong kiến đua nhau tranh quyền đoạt lợi, giai cấp tư sản mới vươn lên nhưng nhu nhược, đời sống nhân dân cơ cực, chịu sự áp bức bóc lột nặng nề của các thế lực phong kiến, Shakespeare đã vẽ bức tranh xã hội bằng ngôn từ uất ức đau khổ nhưng tràn đầy niềm hy vọng và niềm tin ngoan cường, bất khuất.

Vở bi kịch Hamlet (1601) có nội dung triết học phong phú và có ý nghĩa xã hội sâu sắc, đặt lên vai chàng hoàng tử Đan Mạch Hamlet trách nhiệm xã hội to tát là diệt trừ tội ác, khôi phục chính nghĩa nhưng chàng luôn rụt rè, nhu nhược trong hành động. Và phải giải quyết bằng một cuộc quyết đấu. Đó chính là đặc trưng của người theo chủ nghĩa nhân văn thuộc giai cấp tư sản đương thời. Sự kết hợp hài hoà giữa thực tế xã hội, chiều sâu triết học và nghệ thuật hấp dẫn đã làm cho tác phẩm trở thành một trong những kiệt tác trong kho tàng văn học thế giới.

Đến vở Othello (1604), Shakespeare lại khai thác khía cạnh khác của mối xung đột xã hội, một con người ngây thơ ngay thẳng như Othello đã giết vợ chỉ vì quá tức giận. Khi hiểu rõ chân tướng sự việc, Othello bình tĩnh tự nhận sự phán quyết và trừng trị nghiêm khắc cho chính mình bằng cách tự sát.

Trong vở Vua Lear (1605), từ một ông già u mê trở thành một ông lão nhân từ biết thương người. Đây là một tác phẩm thể hiện sự xung đột giữa lòng nhân ái với lòng vị kỷ tự ti cực đoan, phơi bày sự đồi bại về đạo đức trong mối quan hệ cha con, vợ chồng. Cuối cùng vua Lear chết sau khi phát điên.

Cái chết của viên đại tướng Macbeth trong vở Macbeth (1605) dùng để rửa sạch tội ác của tên tướng nhiều dục vọng và dã tâm này. Tội ác của Macbeth không thể hối cải được, hai bàn tay dính máu của ông ta không có loại nước nào có thể rửa sạch được. Sự trừng phạt lớn nhất dành cho ông ta là sự dày vò suốt ngày đêm của chút lương tri còn sót lại trong nội tâm ông ta.

Và hàng loạt những tác phẩm khác như Caesar đại đế (1699), Antony và Cleopatra (1606)… đều có những cái chết mang tính hoá giải xung đột, mỗi cái chết mang màu sắc khác nhau nhưng đằng sau hành động chết là một sự giải thoát. Xung đột trong tình yêu, xung đột trong gia đình, xung đột giữa suy nghĩ và hành động trong bản thân, xung đột trong bối cảnh chính trị… đều được hóa giải hợp lý dưới ngòi bút và tư tưởng của Shakespeare.

“Con người là một kiệt tác thật tuyệt vời” – Shakespeare đã nói như vậy và ông đã thể hiện kiệt tác ấy hết sức sâu sắc và đa dạng. Ông đã đặt tất cả tâm nguyện và khát vọng của mình trong từng tác phẩm. Cuộc đời ban tặng cho ông niềm hạnh phúc gia đình để tài năng của ông được thăng hoa, nhưng dưới đôi mắt của một người nhiệt tình với cuộc đời, ông không thể thờ ơ với những gì đang xảy ra quanh mình và cách duy nhất được ông sử dụng là tái hiện lại trong từng tác phẩm, thông qua tác phẩm, ông bày tỏ quan điểm, tư tưởng, ước mơ của bản thân. Đó chính là yếu tố tích cực tạo nên sự hoàn hảo của từng tác phẩm của Shakespeare.

GẶP NGƯỜI BỊ KẾT ÁN 115 NĂM TÙ VÌ TIẾT LỘ THÔNG TIN MẬT VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM




Daniel Ellsberg, sĩ quan Lầu Năm Góc, từng tham chiến ở Việt Nam, tiết lộ 7.000 trang tài liệu tối mật cho báo chí, tạo nên làn sóng phản đối chiến tranh VN mạnh mẽ chưa từng có tại Mỹ.


Daniel Ellsberg

Năm 1971, Daniel Ellsberg, sĩ quan Lầu Năm Góc, từng tham chiến ở Việt Nam, tiết lộ 7.000 trang tài liệu tối mật cho báo chí, tạo nên làn sóng phản đối chiến tranh VN mạnh mẽ chưa từng có tại Mỹ.

Sau gần 40 năm, ở tuổi 75, nhân vật huyền thoại này trở lại VN trong chuyến du lịch cùng các sinh viên Mỹ. Đã có sự giới thiệu của anh Michael Ellsberg, con trai ông, nhưng Daniel vẫn luôn trả lời một cách dè dặt mỗi khi tôi liên lạc với ông từ VN. Có lẽ đây chính là đặc tính của một sĩ quan từng làm việc trong cơ quan hoạch định chính sách chiến tranh của Lầu Năm Góc và trải qua nhiều sóng gió cuộc đời. Vậy nhưng khi gặp nhau tại Hà Nội, Daniel lại cởi mở hơn tôi tưởng. Không còn sự e ngại, không cần những câu nói xã giao, Daniel sẵn sàng bộc bạch với những tình cảm chân thành.

Quyết định gây chấn động

Nhận bằng Tiến sĩ kinh tế ĐH Harvard năm 1962, nhưng cuộc đời lại đưa Daniel đến với Bộ Quốc phòng năm 1964 và ngày sau đó phải sang chiến trường VN.

Sau hơn 3 năm ở VN, làm việc cho cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Quốc phòng và Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, năm 1967, Daniel lúc đó 36 tuổi, trở về Mỹ. Daniel được phân vào nhóm nghiên cứu tối mật về hoạch định chính sách đối với VN của Bộ trưởng Quốc phòng McNamara.

Hỏi lý do nào khiến ông đi đến quyết định gây chấn động nước Mỹ năm 1971? Daniel cho biết thực ra ông đã bắt đầu copy các tài liệu mật từ năm 1969. Ở vị trí của mình, Daniel biết rằng Tổng thống Nixon muốn “leo thang” trong cuộc chiến ở VN. Tuy nhiên, chính quyền Nixon lại dùng những lời nói dối để bao che cho hành động leo thang, kéo dài chiến tranh. Daniel muốn các nhà lịch sử, báo chí và công luận hiểu rõ sự dối trá này.

Mặt khác Daniel cũng nhận thức được những gì mình và gia đình có thể phải hứng chịu sau đó. Khi đưa ra quyết định này, Daniel cho biết, ông đã sẵn sàng vào tù. Đây là một quyết định khó khăn với nhiều sự giằng xé nội tâm, nhưng cuối cùng phần yêu mến hòa bình, mong muốn chiến tranh kết thúc sớm, tôn trọng công lý, sự thật trong con người Daniel đã chiến thắng.

Sau khi trao tài liệu mật cho tờ The New York Times đầu tiên, Daniel và vợ, bà Patricia, bị chính quyền tìm mọi cách ngăn cản để các tờ báo khác không có được tài liệu. Trong vòng 2 tuần, với sự giúp đỡ của bạn bè và những người hoạt động trong phong trào phản chiến, tài liệu đã được phân phát cho 19 tờ báo lớn ở Mỹ. Daniel nhớ lại thời điểm đó FBI từng miêu tả vợ chồng ông như là mục tiêu săn đuổi lớn nhất. Một khoảng thời gian rất căng thẳng, nhưng Daniel được sự ủng hộ của vợ con, thậm chí họ còn giúp ông photo và phân phát tài liệu. Lúc đó con của Daniel còn nhỏ và thực sự không hiểu gì, nhưng Daniel muốn con mình được biết những điều mà người cha đã làm. Ngay sau đó Daniel bị bắt, bị tòa án cáo buộc tới 12 tội nghiêm trọng với bản án 115 năm tù. Vợ của ông bà Patricia cũng bị kết án.

Tuy nhiên, năm 1973, bản án 115 tù của Daniel đã bị bãi bỏ cùng với việc Tổng thống Nixon và một số quan chức Nhà Trắng bị điều tra. Cậu con trai thứ của Daniel là Michael sinh ra sau khi chiến tranh VN kết thúc. Dù vậy Michael tâm sự với tôi rằng anh hiểu rõ những gì cha mình đã làm và luôn tìm cách bù đắp cho những gì mà ông từng phải gánh chịu. Các con của Daniel cũng như nhiều người Mỹ yêu chuộng hòa bình và công lý luôn xem ông như một huyền thoại.

Với câu hỏi liệu đã bao giờ ông cảm thấy hối hận về việc tiết lộ tài liệu mật, Daniel tâm sự rằng ông chỉ hối hận là đã không làm điều này sớm hơn. Năm 1964 - 1965 khi làm việc cho trợ lý đặc biệt của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tại VN, Daniel được tiếp cận với nhiều tài liệu mật và nếu tiết lộ ngay đã có thể làm thay đổi một điều gì đó trong cuộc chiến tranh này. Tòa án khi xét xử Daniel đã cáo buộc hành động của ông là phản quốc, nhưng theo Daniel việc phản đối chiến tranh, mang lại hòa bình, nói rõ sự thật với người dân mới thể hiện rõ lòng yêu nước. Người dân Mỹ có sự phán xét công bằng. Khi Daniel bị kết án, hơn 25.000 người đã quyên góp ủng hộ ông. Tuy nhiên, cũng có người Mỹ cho rằng Daniel đã hành động sai, đặc biệt vì trước đó ông đã tuyên thệ giữ bí mật các tài liệu. Daniel giải thích nếu hối hận ông đã không tiếp tục có những hành động phản đối chiến tranh đến ngày nay.

Trở lại chiến trường xưa

Trở lại VN, Daniel mới hiểu rằng dù chiến tranh qua đi đã lâu, người dân vẫn tiếp tục phải hứng chịu những hậu quả của nó như bom mìn còn sót lại. Daniel còn được trực tiếp chứng kiến những đổi thay sau hơn 30 năm chấm dứt chiến tranh, những khuôn mặt rạng ngời của giới trẻ trên các đường phố ngập tràn xe môtô, những người phụ nữ chân lấm tay bùn trên đồng ruộng, các em thơ vẫn trên lưng trâu và đặc biệt là sự thân thiện mà bạn bè VN dành cho ông cũng như các thành viên trong đoàn...

Tất cả khiến Daniel thực sự xúc động và càng hiểu rõ rằng mình đã hành động đúng trong quá khứ. Trên mảnh đất này, Daniel đã từng cầm súng, nhưng sau đó lại bất chấp mọi hậu quả để tiết lộ tài liệu mật với hi vọng chiến tranh sớm kết thúc.

Từ sau chiến tranh VN đến nay, Daniel đã viết rất nhiều sách, báo, thường xuyên tham dự các buổi nói chuyện liên quan đến chiến tranh VN ở các trường đại học trên khắp nước Mỹ. Những tiết lộ mới của ông gần đây như trong cuốn “Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers “ (Các bí mật: Hồi ký về VN và các tài liệu Lầu Năm Góc) trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất ở Mỹ. Tất cả những hoạt động đó, theo Daniel, là vì hòa bình, công lý và sự thật với hi vọng những điều không tốt đẹp như trong chiến tranh VN sẽ không bao giờ xảy ra nữa.

Trang web mà cậu con trai Michael lập riêng cho ông luôn nhận được sự quan tâm của nhiều người Mỹ, đặc biệt là sinh viên. Mặc dù đã 75 tuổi, nhưng lịch làm việc của Daniel dày đặc với những buổi nói chuyện trên khắp nước Mỹ. Hiếm khi Daniel có mặt ở nhà mình tại thành phố Kensington, bang California.